Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2008

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI CHO NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO LẦN THỨ 81

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI CHO NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO LẦN THỨ 81

Chúa Nhật 21 tháng Mười, 2007
“Toàn Thể Giáo Hội cho Khắp Nơi Thế Giới”

Anh chị em thân mến,

Nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo, tôi mời gọi toàn thể Dân Chúa- các Giám mục, linh mục, các tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân- cùng nhau suy tư về sự cấp bách và tầm quan trọng của hoạt động truyền giáo của Giáo Hội trong thời đại chúng ta.

Quả thật, những lời Chúa Tử Nạn và Phục Sinh uỷ thác cho các Tông Đồ trong mệnh lệnh truyền giáo trước khi Người lên Trời luôn vang lên như một lời mời gọi bao trùm, một lời hiệu triệu thành khẩn : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Rồi Người thêm: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19- 20).

Trong nhiệm vụ truyền giáo nặng nề này chúng ta được nâng đỡ và được đồng hành trong niềm xác tín rằng Người là Chúa mùa gặt, Người luôn ở với chúng ta và không ngừng hướng dẫn dân Người. Chúa Kitô là nguồn mạch vô biên của công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Thêm nữa, một lí do khác trong năm nay càng thôi thúc chúng ta canh tân việc dấn thân truyền giáo: dịp kỉ niệm 50 năm ngày ban hành Thông điệp Fidei Donum (Hồng ân Đức Tin) của Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Piô XII, nhằm xúc tiến và cổ vũ sự cộng tác giữa các Giáo Hội địa phương để truyền giáo cho mọi dân tộc.

“Toàn Thể Giáo Hội cho Khắp Nơi Thế Giới” đó là chủ đề được chọn cho Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay. Chủ đề này mời gọi các Giáo Hội địa phương trên khắp các lục địa cùng nhận thức nhu cầu khẩn thiết phải tái phát động hoạt động truyền giáo để đối phó với nhiều thách thức nghiêm trọng trong thời đại chúng ta.

Hiển nhiên, trong những thập kỉ qua hoàn cảnh sống của con người ngày nay đã thay đổi, nhất là từ Công Đồng Vatican II, biết bao nỗ lực đã được thực hiện để loan truyền Tin Mừng.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần phải tiến hành để đáp lại lời kêu gọi truyền giáo mà Chúa không ngừng truyền cho mọi người đã chịu phép Thánh Tẩy. Người tiếp tục kêu gọi, trước hết là các Giáo Hội được coi là “trưởng thành” mà trong quá khứ đã cung ứng các nhà truyền giáo gồm rất nhiều linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân cũng như các phương tiện vật chất, tạo nên sức sống cho một cuộc hợp tác hữu hiệu giữa các cộng đồng Kitô giáo.

Sự hợp tác này đã đem lại những kết quả truyền giáo dồi dào vừa cho Giáo Hội trẻ trung trong các xứ truyền giáo vừa cho cả các cộng đồng Giáo Hội đã gửi các nhà truyền giáo đi. Đứng trước nền văn hoá tục hoá, dường như càng ngày càng lấn sâu vào các xã hội tây phương, lại thêm sự khủng hoảng gia đình, rồi sự sút giảm ơn gọi cùng với sự lão hoá hàng giáo sĩ, các Giáo Hội này đang rơi vào nguy cơ chỉ tập trung vào chính mình để rồi nhìn tương lai mà thiếu hi vọng và giảm bớt lòng nhiệt thành truyền giáo. <>

Zuy nhiæn chín` lúc nРy mớz là th滝i gia` để pở rỚng lònf tin tƠởng vРo sự:Quan PhƲng cỠa Thiêp Chúa zà ĐẦng chẢng bao piờ bẏ rơi fân NgƠời, npưng vẛi sứf mạnh của Cpúa Thúnh ThẦn Ngư᠝i hưᰛng hỚ về vfệc ho�n tấp kế hzạch c滩u chu໙c đᰝi đỚi của&Ngườ`.

0 :p align&"justif`" class8"style6:> Vị Fục Tᠭ tốt8cũng m�i gỆi các @iáo Hᰙi mớz đón fhận Tin Mừng quảng đại hi sinh vào việc truyền giáo cho muôn dân- missio ad gentes. Dù gặp một số các khó khăn và nghịch cảnh trong việc mở rộng, các cộng đoàn này vẫn tiếp tục tăng triển. Diễm phúc thay một số cộng đoàn có rất nhiều linh mục và tu sĩ mà số khá đông trong họ, dù nhu cầu địa phương đòi hỏi thúc bách, vẫn được gửi đi một nơi nào đó để thi hành sứ vụ mục tử và phục vụ truyền giáo, ngay cả trong những miền truyền giáo cố cựu.

Và như thế chúng ta nhận ra sự diệu kì của việc “trao chuyển các ơn ban”, được cống hiến một cách dồi dào vì lợi ích của toàn Nhiệm Thể Chúa Kitô.

Tôi tha thiết hi vọng rằng việc hợp tác truyền giáo sẽ còn trở nên sống động hơn khi mỗi cộng đồng phân định khả năng và đặc sủng của riêng mình. Tôi cũng hi vọng rằng Ngày Thế Giới Truyền Giáo sẽ giúp cho mọi cộng đồng Kitô giáo cũng như mọi Kitô hữu ý thức hơn về đặc tính phổ quát lời mời gọi của Chúa Kitô là mở rộng Nước Trời đến cùng cõi trái đất.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết trong thông điệp Redemptoris Missio: “Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo”- bởi vì lệnh truyền của Chúa Kitô không phải là một điều ngẫu nhiên, tuỳ phụ, nhưng đi vào căn cốt của Giáo Hội. Do đó Giáo Hội phổ quát cũng như mỗi giáo hội địa phương đều được sai đến với các dân tộc... Thật thích hợp là các giáo hội non trẻ cần phải “càng sớm hết sức có thể chia sẻ công việc truyền giáo của Giáo Hội. Chính họ phải gửi các nhà thừa sai để rao giảng Tin Mừng trên khắp thế giới, dẫu họ cũng đang chịu cảnh thiếu giáo sĩ” (s. 62).

Năm mươi năm trôi qua kể từ lời hiệu triệu lịch sử của vị tiền nhiệm của tôi, Đức Piô XII với thông điệp Fidei Donum về việc hợp tác giữa các Giáo Hội để phục vụ công cuộc truyền giáo, tôi tái khẳng định rằng việc loan báo Tin Mừng vẫn cấp bách và hợp thời.

Trong thông điệp Redemptoris Missio, về phần mình, Đức Gioan Phaolô II viết rằng: “sứ vụ của Giáo Hội thì lớn lao hơn ‘sự hiệp thông giữa các Giáo hội’; do đó chúng ta không chỉ hướng về việc tái truyền giảng Tin Mừng nhưng trước tiên còn phải hướng về việc truyền giáo nữa (64)”.

Bởi đó như chúng đã nhiều lần đề cập, lòng nhiệt thành truyền giáo vẫn còn là việc ưu tiên phục vụ, mà Giáo Hội mắc nợ nhân loại hôm nay, để định hướng và phúc âm hoá các biến chuyển về văn hoá, xã hội và đạo đức, và để trao ban ơn cứu chuộc của Chúa Kitô cho mọi người hôm nay đang bị lăng mạ và áp bức tại nhiều miền trên thế giới vì sự nghèo đói, bạo lực và việc phủ nhận nhân quyền một cách có hệ thống.

Giáo Hội không thể thoái thác sứ vụ phổ quát này; bởi vì đó là một đòi buộc đối với Giáo Hội. Nếu trước tiên Chúa Kitô uỷ thác mệnh lệnh truyền giáo cho Phêrô và các Tông Đồ thì ngày nay trách nhiệm đó ưu tiên thuộc về Đấng kế vị Thánh Phêrô mà sự quan phòng Chúa đã chọn để làm nền tảng hữu hình cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, rồi đến các Giám mục là đấng chịu trách nhiệm trực tiếp đối với việc truyền giáo trong tư cách là thành viên của Giám Mục Đoàn và là mục tử của các Giáo Hội địa phương (x. Redemptoris Missio, s. 63).

Bởi đó, tôi hối thúc các Giám mục trong tất cả các Giáo Hội mà Chúa đã chọn để dẫn dắt đoàn chiên duy nhất của Người, hãy chia sẻ lòng nhiệt thành rao giảng và truyền bá Tin Mừng.

Tôi đang ngỏ lời với các vị Mục Tử của tất cả các Giáo Hội địa phương, đã được Chúa chọn để dẫn dắt đoàn chiên duy nhất của Người để các ngài cùng chia sẻ mối quan tâm thúc bách của việc loan truyền Tin Mừng.

Đó cũng chính là ý nguyện đã hướng dẫn tôi tớ Chúa, Đức Piô XII năm mươi năm trước đề đặt việc hợp tác truyền giáo cho thích hợp hơn để đáp ứng các nhu cầu của mọi thời đại.

Đặc biệt khi xét đến việc truyền giảng Tin Mừng cho tương lai ngài mời gọi các Giáo Hội và các cộng đồng đã đón nhận Tin Mừng lâu năm hãy gửi các linh mục đến giúp các Giáo Hội mới được thành lập.

Và như thế ngài đã khơi lên một “chủ đề truyền giáo” mới mà những từ đầu tiên của thông điệp đã lấy tên là Fidei Donum. Ngài viết: “ Mộït đàng, khi chúng tôi hướng tâm tư về vô số những con cái của chúng tôi đã được tham dự vào ơn phúc đức tin, nhất là trong các nước đã có một truyền thống Kitô lâu đời, nhưng đàng khác khi chúng tôi nhận thấy rất nhiều đoàn người vẫn còn đang đợi chờ ngày cứu chuộc được loan báo cho họ, thì chúng tôi luôn hết sức tha thiết hối thúc Chư Huynh với sự quan tâm nhiệt thành, hãy nâng đỡ việc tuyệt đối thánh thiện là đem Giáo Hội của Chúa đến khắp cả thế giới.” Và ngài thêm: “Ước gì những lời nhắc nhở của chúng tôi sẽ khơi lên một sự quan tâm hăng hái trong sứ vụ truyền giáo nơi các linh mục của chư huynh và qua họ làm cho tâm hồn các tín hữu được bừng cháy!” (Fidei Donum s.4).

Chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì những hoa trái dồi dào trong việc hợp tác truyền giáo tại Châu Phi và những miền khác trên thế giới.

Rất nhiều linh mục sau khi bỏ lại cộng đoàn bản xứ của mình đã đem tất cả năng lực truyền giáo để phục vụ các cộng đồng mà một số mới được tạo lập trong những miền nghèo túng và đang phát triển. Trong số họ không ít các vị tử đạo đã kết hợp chứng từ về lời nói và việc tận hiến cho truyền giáo bằng hiến lễ là chính mạng sống của họ.

Chúng ta cũng thể quên những tu sĩ nam nữ và những thừa sai giáo dân đã cộng tác với các linh mục để loan truyền Tin Mừng cho đến tận cùng trái đất. Xin cho ngày truyền giáo trở thành một dịp để trong niềm tin tưởng, chúng ta nhớ đến tất cả anh chị em này cũng như mọi người đang tiếp tục làm việc trong cánh đồng truyền giáo bao la bằng lời cầu nguyện.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa để những gương sáng của họ khơi lên khắp nơi những ơn gọi mới cũng như giúp các Kitô hữu ý thức sâu xa hơn việc truyền giáo. Thật vậy, mỗi cộng đồng Kitô giáo tự bản chất là truyền giáo, và phải dùng tất cả sự dũng cảm mà rao giảng Tin Mừng để những người tin yêu Chúa được gia tăng.

Do đó, chúng ta có thể nghĩ rằng đối với mỗi người tín hữu, vấn đề không chỉ là hợp tác với hoạt động rao giảng Tin Mừng, mà còn hơn thế nữa, họ phải ý thức rằng chính họ cũng là những sứ giả truyền giáo, cùng chia sẻ trách nhiệm truyền giáo của Giáo Hội. Trách nhiệm chia sẻ truyền giáo này có nghĩa là việc hiệp thông giữa các cộng đồng phải được gia tăng và việc hỗ trợ lẫn nhau liên quan đến vấn đề nhân sự (các linh mục, các tu sĩ, và các thừa sai giáo dân), cũng như các phương tiện cần thiết cho việc rao giảng Tin Mừng hôm nay, cần được đẩy mạnh.

Anh chị em thân mến, mệnh lệnh truyền giáo mà Chúa Kitô uỷ thác cho các Tông Đồ thật sự liên quan đến tất cả chúng ta. Ước gì Ngày Thế Giới Truyền Giáo trở thành một dịp thuận tiện để đào sâu ý thức và cùng nhau hoạch định những lộ trình thiêng liêng và đào tạo một cách thích hợp để thúc đẩy sự hợp tác giữa các Giáo hội và huấn luyện nhiều nhà thừa sai hơn để loan truyền Tin Mừng trong thời đại chúng ta.

Tuy nhiên, chúng ta đừng bao giờ quên rằng sự đóng góp ưu tiên và tuyệt hảo mà chúng ta được kêu gọi để góp phần vào việc truyền giáo của Giáo Hội là lời cầu nguyện. Chúa nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt ra gặt lúa về”(Lc10, 2).

Đức Giáo Hoàng Piô XII viết năm mươi năm trước, “Chư huynh đáng kính, chúng tôi tin tưởng rằng chư huynh luôn tha thiết cầu nguyện cho việc truyền giáo” (Fidei Donum, s. 49). Anh chị em hãy luôn nhớ đến nhu cầu thiêng liêng lớn lao của rất nhiều dân tộc: những người rời xa con đường sự thật cũng như biết bao nhiêu người đang cần nhờ những phương thế để giữ vững đức tin.” (x. s. 55).Và ngài hối thúc các tín hữu dâng nhiều Thánh Lễ để chỉ cho việc truyền giáo, ngài cho rằng: “điều này hợp với lời cầu nguyện của Chúa chúng ta, Đấng yêu mến Giáo Hội và muốn Giáo Hội của Người phát triển cũng như mở rộng bờ cõi đến toàn thể thế giới.” ( như trên s.52).

Anh chị em thân mến, hơn lúc nào hết tôi cũng nhắc lại lời kêu gọi này . Ước gì lời kêu gọi này lan đến mỗi cộng đoàn lời đồng thanh cầu nguyện “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, để nước Chúa hiển trị.

Tôi đặc biệt kêu gọi các thiếu nhi và giới trẻ hãy sẵn sàng và quảng đại cho việc truyền giáo. Tôi ngỏ lời tới các bệnh nhân và những người đau khổ, nhắc nhớ họ về giá trị của sự cộng tác kì diệu và quan yếu của họ đối với công trình cứu chuộc. Tôi mời gọi các tu sĩ, đặc biệt các tu sĩ dòng kín hãy gia tăng cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Nhờ nỗ lực của mỗi người tín hữu, một mạng lưới thiêng liêng của việc cầu nguyện được trải rộng ra trên khắp Giáo Hội nhằm hỗ trợ việc truyền giáo. Xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã đồng hành cùng Giáo Hội thời sơ khai bằng sự quan tâm từ mẫu, cũng hướng dẫn hành trình của chúng ta trong giai đoạn này và ban xuống cho chúng ta một Lễ Hiện Xuống mới của tình yêu. Nhất là, xin Mẹ giúp tất cả chúng ta ý thức rằng chúng ta đều là những thừa sai, đều được Chúa sai đi để làm chứng cho Người trong mọi phút giây của cuộc sống.

Tôi hứa hằng ngày cầu nguyện cho các linh mục được đầy hồng ân đức tin, cho các tu sĩ nam nữ, các thừa sai giáo dân đang hoạt động trên cánh đồng truyền giáo, cũng như cho tất cả mọi người, cách này hay cách khác, giúp vào việc loan báo Tin Mừng, và tôi thân ái ban Phép Lành Tông Toà cho mọi người.

Từ Vatican, ngày 27 tháng Năm, 2007, Lễ Trọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

BENEDICTUS PP. XVI

NHỮNG ĐIỀU MẸ ƯỚC CHO CON

NHỮNG ĐIỀU MẸ ƯỚC CHO CON

Mẹ mong con biết thế nào là mặc lại quần áo cũ của anh chị, là ăn lại thức ăn thừa của ngày hôm qua… là đói, là mệt, là đổ mồ hôi... Mẹ thực sự mong như thế.

Mẹ mong con biết thế nào là thất bại để học lấy sự khiêm tốn. Biết thế nào là thành công để học lấy sự tự tin. Và cư xử trung thực ngay cả trong những chuyện chỉ mình con biết.

Mẹ mong con biết lau dọn nhà cửa và biết rửa xe, và mẹ mong đừng ai tặng con một món quà đắt tiền khi con mới 17 tuổi.

Mẹ mong con một lần nhìn thấy một chú bê con ra đời, và biết chăm sóc con chó già ốm yếu, xấu xí và thường nằm bẹp góc nhà.

Mẹ mong con đánh nhau đến sưng mắt để bảo vệ một điều mà con vẫn hằng tin.

Mẹ mong con chia sẻ phòng của con với em con. Cũng được nếu con kẻ một vạch phấn để ngăn đôi căn phòng, nhưng nếu em con muốn chui vào chăm ngủ cùng con vì nó sợ cái gì đó lúc nửa đêm thì mẹ mong là con hãy ôm lấy em.

Và khi con muốn chơi trò chơi điện tử, còn em con muốn con chơi cùng thì mẹ hy vọng là con sẽ chọn em.

Nếu con muốn một cây súng cao su, mẹ mong bố con dạy con tự làm lấy một cái thay vì cho tiền con để mua nó. Mẹ mong con biết đào hố trồng cây và đọc sách. Và khi con biết sử dụng computer, con vẫn biết làm tính nhẩm.

Mẹ mong con bị bạn bè chê cười khi con xô đẩy, trêu chọc một bạn gái. Và khi con chạy về mách bố con, bố sẽ yêu cầu con đi xin lỗi bạn.

Mẹ mong gì con bị trầy da khi leo núi, bỏng tay khi nấu bếp và dính lưỡi khi dại dột liếm đá. Những bài học nho nhỏ ấy sẽ dạy con rất nhiều điều về sự cẩn trọng và giữ an toàn cho bản thân con, vì con và những người yêu thương con.

Mẹ ước gì con thấy khó chịu khi ai đó phì khói thuốc lá vào mặt con. Mẹ cũng chẳng ngại nếu con thử một chén rượu, nhưng mẹ mong con không thích. Và nếu như một người bạn rủ con thử một loại ma túy, thì mẹ mong con đủ thông mình để nhận ra rằng người đó không phải bạn con.

Mẹ thực sự mong con dành thời gian đi câu cá với ông.

Đó là những điều mẹ mong con nhận được mỗi ngày. Những giờ phút khó khăn, thất vọng, làm việc chăm chỉ và hạnh phúc.

GIAO LY CUA HOI THANH VE PHA THAI


GIÁO LÝ CỦA HỘI THÁNH VỀ PHÁ THAI

1. Phá thai là vi phạm trầm trọng luật luân lý:

Dựa vào Lời Chúa và ánh sáng lương tri, Hội Thánh luôn luôn dạy rằng tự ý và trực tiếp phá thai là một trọng tội. Hội Thánh tin rằng Chúa là Đấng tạo thành Sự Sống của con người: "Người dựng nên ta, ta là của riêng Người." ( Tv 100, 3 ).

Sự Sống của con người là một quà tặng của Thiên Chúa hằng hữu ban cho nhân loại. Thiên Chúa ban Sự Sống cho con người không phải để con người làm chủ tuyệt đối nhưng để làm kho tàng cho con người quản lý và con người phải trả lẽ trước nhan Người ( x. Mt 25, 14 – 30; Lc 19, 12 – 27 ). Chúa canh chừng Sự Sống của con người ( x. St 9, 5 – 63 ) và cấm chúng ta không được giết người ( Xh 20, 13; Mt 5, 21 ). Vì thế, Sự Sống của con người là thiêng thánh và bất khả xâm phạm trong tất cả quá trình hoàn thành của nó từ đầu cho đến cuối.

Chúa Giê-su Ki-tô ra luật yêu người, buộc chúng ta phải tôn trọng, bảo trợ và thăng tiến Sự Sống của tha nhân. Bởi vậy, thủ tiêu Sự Sống của con người là hoàn toàn đi ngược lại với huấn lệnh Người đã truyền cho chúng ta là phải yêu tha nhân đến hy sinh mạng sống mình.

Hội Thánh ở khắp nơi và trong mọi thời bao giờ cũng nhắc lại lệnh truyền của Chúa về tính bất khả xâm phạm của Sự Sống con người vô tội, dù Sự Sống ấy mới chỉ manh nha. Từ xưa đến nay Hội Thánh luôn luôn nhất trí về điểm này và không hề nhượng bộ một ly.

Ngay từ những bước đầu, cộng đồng Ki-tô hữu theo gương Chúa Ki-tô và vâng lệnh Người truyền về bổn phận phải yêu thương các trẻ nhỏ, đã can đảm đương đầu với thế giới ngoại giáo trong việc bảo vệ giá trị Sự Sống của con người, dù nó chưa thành hình, qua đoạn văn sau đây:

"Không được giết... không được phá thai làm cho đứa trẻ chết... Không được giết nó sau khi nó đã ra đời… Đó là con đường đưa tới sự chết... Những người ấy không biết Đấng tạo thành nên họ, họ giết con họ, họ phá thai làm cho các thọ tạo của Chúa phải chết." [1]

Trong nhiều Công Đồng, Hội Thánh đã ra những hình phạt rất nặng [2] . Huấn quyền Tòa Thánh cũng đã nhiều lần mạnh mẽ lên tiếng rằng phải nghiêm cấm phá thai. Các Đức Giáo Hoàng, các Hội Đồng Giám Mục và các Giám Mục nhân danh cá nhân, đều nhất trí và cương quyết bày tỏ thái độ về vấn đề này [3] . Công Đồng Vatican II quả quyết:

"Thiên Chúa, Đấng làm chủ Sự Sống đã giao cho loài người nhiệm vụ cao quí Bảo Vệ Sự Sống, và con người phải đảm trách nhiệm vụ này một cách xứng đáng. Phải hết sức ân cần Bảo Vệ Sự Sống ngay từ lúc thụ thai. Phá thai và giết trẻ thơ là những tội ác đáng ghê tởm” [4] .

Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã tuyên bố là Hội Thánh giữ vững lập trường bất di bất dịch về vấn đề phá thai [5] . Nhân dịp kỷ niệm 15 năm làm Giáo Hoàng, ngài đã xác quyết:

"Và chúng tôi, người đã tự đặt ra cho mình chỉ thị rõ rệt là phải tuyệt đối trung thành với giáo huấn của Công Đồng. Chúng tôi đã đặt vấn đề bảo vệ Sự Sống dưới mọi hình thức nó có thể bị đe dọa, thương tổn hay thủ tiêu, làm chương trình hành động cho nhiệm kỳ của chúng tôi. Nhưng việc Bảo Vệ Sự Sống phải bắt đầu ngay từ nguồn mạch. Vì thế, Hội Thánh Công Giáo mới phải nhắc đi nhắc lại Giáo Lý về vấn đề ly dị và phá thai, cũng như lưu ý mọi người về thực tại đau lòng và những hậu quả rất nặng nề của hai vấn đề đó. Những lời xác quyết ấy, chúng tôi đã chỉ đưa ra, nhân danh trách nhiệm tối cao của chúng tôi là thày dạy và người dìu dắt Hội Thánh khắp nơi và vì lợi ích của loài người”. [6]

Không phải chỉ có Đức Tin Ki-tô giáo mà cả lương tri nhân loại cũng cho phá thai là một trọng tội, vì như thế là thủ tiêu một cách tàn bạo một con người vô tội không có phương thế tự vệ, đang cần mọi sự và cần đến mọi người.

Phá thai chắc chắn là một trong những bất công tệ hại nhất phạm đến con người. Chẳng những con người không được nhìn nhận như một nhân vị mà quyền sống là quyền căn bản nhất cũng bị chà đạp dưới chân, và không thể lấy lại được một khi đã mất.

Tính bất công của tội phá thai còn hóa ra nặng thêm, bởi lẽ đứa trẻ trong bụng mẹ là một kẻ vô tội không có phương thế nào để tự vệ; nó bị thủ tiêu do chính những người đã đưa nó tới Sự Sống và do những người đáng lý ra phải bảo vệ và bênh vực Sự Sống của nó như các bác sĩ và y tá.

Lương tri của mọi người đều nhìn nhận nguyên lý hiển nhiên và thiêng thánh này là phải tôn trọng Sự Sống của con người, ngay từ khi nó còn là bào thai. Y giới ngay từ thời xa xưa đã đặt nguyên lý này làm trọng tâm cho hoạt động và tài nghệ của mình, như lời thề của Hippocrate chứng tỏ: "Tôi sẽ không cho ai một thứ thuốc giết người theo lời yêu cầu của người ấy, và tôi sẽ không khuyên bảo gì theo hướng này; tôi cũng sẽ không cho người đàn bà nào một thứ thuốc phá thai". [7]

Nhiều người viện lý để bào chữa cho việc phá thai khi nói rằng đứa trẻ sẽ sinh ra chưa phải là một người. Lập trường này không thể chấp nhận được, vì thụ thai đã là khởi nguyên của một con người cụ thể rồi.

2. Tội và hình phạt dành cho việc phá thai:

Vì những lý do nêu trên, những người xin phá thai, làm nghề phá thai, cộng tác vào việc phá thai một cách tự nguyện và ý thức, đều phạm một tội rất nặng.

Cũng như đối với các tội khác, phán quyết luân lý về những người phá thai hay cộng tác vào việc phá thai, phải căn cứ vào giá trị của Sự Sống con người và dựa vào hoàn cảnh khác nhau của các đương sự. Phải chăm chú cứu xét và thẩm định những hoàn cảnh này một cách thiết thực, mà không tiên thiên kết án hay xá giải, với một sự tế nhị đặc biệt dành cho những người đang trải qua những thảm cảnh bi đát.

Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông người Công Giáo nào can tội phá thai. Vạ này có tính tức thời, nghĩa là không cần phải tuyên bố án lệnh và quyền giải vạ này dành cho Vị Thường Quyền ( GL 1398 ). Ai bị vạ tuyệt thông thì không được lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể.

Để tránh những sự giải thích sai lạc và nhất là để thẩm định một cách tích cực nội dung và tinh thần của vạ này, cần lưu ý mấy điểm sau đây:

- Người tín hữu nào bị vạ tuyệt thông thì phải loại ra ngoài, không được hiệp thông với Hội Thánh, và vì thế không được tham dự các Bí Tích như mới nói. Hình phạt này nặng ở chỗ người ấy không được rước Mình Thánh Chúa và do đấy, không được tham dự vào hoạt động được coi như tuyệt đỉnh của đời sống Ki-tô hữu.

- Cũng như tất cả các hình phạt của Hội Thánh, vạ tuyệt thông dành cho tội phá thai nhằm trước hết là phòng ngừa, chữa trị và giáo dục. Quả thế, Hội Thánh dùng vạ tuyệt thông để tố cáo việc phá thai và coi đó là một hành động không thể dung hợp được với những đòi hỏi của Tin Mừng, đồng thời giúp người đã phá thai có dịp suy nghĩ mà ăn năn hối cải, để lại được sống trong ơn nghĩa. Ngoài ra, vạ này cũng còn là một lời nhắc nhở cho những ai yêu cầu phá thai hay hành nghề phá thai phải coi chừng.

- Chỉ bị vạ tuyệt thông trong một số trường hợp mà thôi. Hội Thánh phạt người phá thai khi người ấy thật sự lỗi nặng và biết lỗi như thế là mắc vạ tuyệt thông.

- Vạ dành cho người phá thai có tính tức thời như đã nói, nghĩa là ngay sau khi phá thai chứ không cần phải xét xử hay tuyên bố gì cả ( vạ tuyệt thông tiền kết ).

Hậu quả tai hại của việc phá thai chỉ có thể hiểu được, khi nhìn vấn đề theo chiều kích xã hội của tội. Do tội của mình mà người Ki-tô hữu, thành phần của Thân Thể mầu nhiệm, không những xúc phạm đến Thiên Chúa là Cha mà còn làm tổn thương cho Hội Thánh ( x. Ánh sáng muôn dân số 11 ). Hơn nữa, ai can tội phá thai là đi ngược lại với sứ mệnh phục vụ và Bảo Vệ Sự Sống vừa chớm nở của Hội Thánh. Người ấy làm cho hành động cụ thể của Hôi Thánh mất tính khả tín và hữu hiệu. Như vậy, vạ tuyệt thông nhằm làm cho thấy rõ người tín hữu nào phá thai là phạm tội phản nghịch cùng Hội Thánh.

Đó là lý do tại sao dành quyền tha vạ cho Vị Thường Quyền nghĩa là Giám Mục hay Linh Mục được thừa quyền.

Trong hoàn cảnh xã hội và văn hóa hiện nay, người ta ít nhạy cảm với ý nghĩa tích cực của hình phạt này. Vì thế có nhiều người tự hỏi không biết Hội Thánh duy trì hình thức này có còn hợp thời hay không, và nhiều người khác lại cho rằng hình thức này đã lỗi thời và hoàn toàn xa lạ với tinh thần đích thật của Tin Mừng.

Thật ra, trả lời cho câu hỏi và vấn nạn này cũng không khó, nếu hiểu rõ ý nghĩa đích thật của vạ tuyệt thông, khi dựa vào sứ mệnh và đời sống của Hội Thánh. Vì tính trầm trọng của tội và vì não trạng của người thời nay chẳng chịu ý thức vấn đề là mấy, nên Hội Thánh phải duy trì hình thức vạ tuyệt thông để tôn trọng giá trị của Sự Sống và bênh vực những kẻ yếu nhất và những người vô tội.

Nhiều người lại còn hỏi rằng tại sao Hội Thánh duy trì vạ tuyệt thông nhằm phạt người phá thai mà lại không phạt vạ những người khác phạm những tội nặng không kém tội phá thai. Nếu suy nghĩ kỹ một chút, người ta sẽ thấy rằng phá thai rõ ràng là một tội giết người, bởi vì đứa trẻ sắp sinh hoàn toàn không thể tự bảo vệ, và dù Nhà Nước không coi phá thai là một trọng tội, nhưng vẫn coi giết người là một trọng tội.

3. Phá thai trước pháp luật đời:

Khi nói đến phá thai, không nên chỉ nghĩ đến chiều kích luân lý cho mỗi cá nhân yêu cầu phá thai, mà còn phải nhìn vấn đề theo hướng xã hội nữa.

Quả thật, phá thai là một hiện tượng xã hội vì nhiều lẽ. Trước hết, phá thai có ảnh hưởng sâu xa đến mối liên lạc giữa hai con người với nhau là người mẹ và đứa con. Tiếp đến, nó lại tác động trên đôi vợ chồng, trên gia đình và xa rộng hơn, trên môi trường xã hội. Vì thế, phá thai phải được nhà cầm quyền chú ý theo dõi và can thiệp.

Khi can thiệp vào Sự Sống vừa chớm nở, nhà cầm quyền không thể chỉ đưa ra một đạo luật, tuy là cần thiết, để cấm phá thai và coi phá thai là một trọng tội, mà còn phạt trừng phạt cách công minh và công bình tùy theo những hoàn cảnh cụ thể. Tuy vậy, một đạo luật như thế tự nó cũng không giải quyết được tất cả vấn đề phá thai, một vấn đề rất khó khăn phức tạp.

Thành ra, trước hết Nhà Nước phải dựa vào một nền giáo dục và văn hóa biết tôn trọng và phát huy giá trị của Sự Sống, đồng thời ý thức trách nhiệm đối với Sự Sống. Lại phải dựa vào một sự trợ giúp mang tính xã hội, gồm các sáng kiến tài trợ và biện pháp nhằm ngăn chặn và nâng đỡ những người không muốn có thai hay gặp khó khăn khi mang thai.

Nhưng vì dân chúng thiếu hiểu biết về văn hóa và xã hội, nên nhiều khi nhà cầm quyền phải đối phó với việc phá thai lén lút, kèm theo những khó khăn và nguy hiểm cho sức khoẻ và tính mệnh của người mẹ.

Vì thế, cần phải có luật pháp can thiệp để ấn định trong trường hợp xã hội này. Người ta hay nại đến nguyên tắc dung thứ mà dựa vào đó Nhà Nước có thể hay phải dung thứ một cái họa nhỏ để tránh những cái họa khác lớn hơn.

Nhưng nguyên tắc dung thứ khi áp dụng vào thực tế không biện minh được việc cho phép trực tiếp loại bỏ một người vô tội. Bộ Đức Tin tuyên bố: "Luật của loài người có thể tha không phạt, nhưng không thể tuyên bố là vô tội điều trái với luật tự nhiên, vì sự đối nghịch này đủ làm cho luật không phải là luật nữa". [8]

Áp dụng luật cho phép phá thai theo luật đời nhân danh nguyên tắc dung thứ là bất hợp pháp và không thể chấp nhận được, vì Nhà Nước không phải là nguồn mạch chính yếu phát sinh ra những quyền tự nhiên bất khả di nhượng của con người, cũng không phải là người sáng tạo và trọng tài tuyệt đối của những quyền này. Ngược lại, Nhà Nước phải phục vụ con người và cộng đồng nhân thế bằng cách nhìn nhận, bảo vệ và cổ động những quyền lợi của con người.

Vì thế, khi cho phép phá thai là Nhà Nước đi ngược lại với ý nghĩa và chính sự hiện diện của mình và làm thương tổn cách rất trầm trọng luật pháp, vì đưa vào đó một nguyên tắc hợp thức hóa bạo động đối với người vô tội bất lực và cô thế.

Những điều nói trên đưa tới phán quyết luân lý này về luật cho phép phá thai: đó là một luật tự bản chất cực kỳ vô luân lý.

Trái với những luật lương thiện và chính đáng, luật này không buộc người ta phải giữ theo lương tâm và không thể xóa bỏ được nguyên tắc: Sự Sống của con người vô tội là bất khả xâm phạm; nguyên tắc này bất di bất dịch không hề thay đổi. Con người chỉ bị ràng buộc bởi luật của Thiên Chúa ghi trong lòng mỗi người mà thôi. Luật này truyền cho ai nấy không được giết người.

Trích bài của Lm. ĐỖ XUÂN QUẾ, Dòng Đa Minh

[1] Sách Didachè II, 2; x. Athénagoras: Biện hộ cho người Ki-tô hữu, 35

[2] x. CĐ Elvire, 63; Ancyre, 21

[3] G, Caprilet: Không được giết, Roma 1973

[4] Vui Mừng và Hy Vọng số 51

[5] Huấn từ ngày 9.12.1972

[6] Bài giảng dụ ngày 29.6.1978

[7] xem E Nardi, Procurato aborto nel mundo greco romano. Milano 1971 trg. 58-66

[8] Documentation catholique số 166 trang 1072

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2008

CHUA NHAT 3 PHUC SINH - NAM A

Ngày 6 Tháng 4, Năm 2008

CHUA NHAT III PHUC SINH - NAM A

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA GIÊSU TRÊN ĐƯỜNG EMMAU

Trên thế giới ai cũng cho nước Hoa Kỳ là thiên đàng trần gian. Thế mà theo thống kê của American Academy of Child and Adolescent Psychiatry thì mỗi năm có hằng ngàn thiếu niên tự vận ở thiên đàng này. Cũng theo thống kê của viện này thì tự vận là nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong việc gây tử vong cho các em từ 15 đến 24 tuổi và thứ sáu cho các em từ 5 đến 14 tuổi. Tại sao thế? Bởi vì các em bị căng thẳng bởi những xáo trộn trong gia đình, những áp lực của bạn bè, những đòi hỏi không được thỏa mãn của chính mình, và nhất là thấy đời vô nghĩa.

Hoàn cảnh của giới trẻ trong thời đại chúng ta chẳng khác nào hoàn cảnh của hai môn đệ trên đường Êmmau trước khi được Đức Kitô Phục Sinh đồng hành với họ. Con người ngày nay đang đánh mất Chúa Giêsu vì họ tìm cách đẩy các giá trị Kitô giáo ra khỏi xã hội. Họ đang truyền thụ cho giới trẻ một nền “văn hóa sự chết” trong đó ích kỳ, vật chất, lạc thú và danh vọng được đề cao, còn các giá trị tâm linh và luân lý nếu không bị loại ra ngoài thì cũng bị bị coi là lỗi thời vô ích. Chúng ta không mấy ngạc nhiên khi nhiều người trẻ cảm thấy chán chường, thất vọng, căng thẳng, và thiếu tự tin trong cuộc sống, vì không có Đức Kitô đồng hành với họ trong cuộc đời, thì tất cả mọi sự đều trống rỗng và vô nghĩa.

Hai môn đệ trên đường Êmmau cũng cảm thấy chán chường như thế. Ba năm theo Chúa với hy vọng là Người sẽ giải phóng Israel khỏi ách đô hộ của Rôma. Nếu không có tham vọng được làm khanh tướng thì hai ông cũng hy vọng là được sống tự do trong một quốc gia độc lập. Khi Chúa lãnh án tử hình và bị chết trên thập giá, thì cả bầu trời xụp đổ trước mặt các ông. Mộng đã vỡ thì chỉ còn cách chán chường trở về quê xưa, làm công việc cũ. Đức Kitô Phục Sinh đã đến và đồng hành với các ông trong quãng đường này. Người đã hỏi các ông, đã quan tâm đến tâm sự của các ông và đã lắng tai nghe từng chi tiết ngổn ngang của tâm sự ấy. Sự quan tâm và tình yêu của Người đối với các ông đã làm cho lòng các ông rộn ràng hy vọng. Ngườii đã vạch cho các ông chân lý bằng cách dùng Thánh Kinh mà giải thích về Đức Kitô. Rồi sau cùng Người đã đưa các ông đến bàn tiệc Thánh Thể. Và khi các ông nhận ra Người thì Người biến mất trước mặt các ông. Tuy biến mất, nhưng Người lại ở trong tâm hồn các ông, làm các ông nôn nóng không nghỉ được, mà phải vội vã trở về Giêrusalem bất chấp đêm đen, để mang tin mừng này đến cho mọi người.

Làm Giáo Lý viên, nhiều khi chúng ta cũng chán chường, thất vọng vì dù cố gắng cách mấy đi nữa chúng ta cũng chẳng thấy học sinh của mình tiến bộ chút nào. Đôi khi chúng ta còn chán chường hơn nữa vì không đạt được những “mục đích tiềm ẩn” trong việc phục vụ của mình. Sở dĩ như thế vì chúng ta đã không tin tưởng đủ nơi Chúa, đã không có Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta trên đường phục vụ, đã không đặt Chúa làm cùng đích của việc phục vụ. Hoặc chúng ta chỉ chú tâm đến mình trong việc phục vụ mà quên rằng Chúa đang đồng hành với mình, nên chúng ta đã không nghe thấy những lời dạy dỗ và an ủi của Người và không cảm nhận được tình yêu của Người. Một khi chúng ta thật sự đồng hành với Chúa và lắng nghe tiếng Người thì lòng chúng ta cũng sẽ rạo rực như hai môn đệ trên đường Êmmau. Một khi chúng ta “mời Chúa ở lại với chúng ta vì trời đã xế chiều” thì chúng ta sẽ được đồng bàn với Người, cùng sẽ nhận ra sự hiện diện của Người trong tiệc Thánh Thể, trong các Bí Tích, và cũng sẽ vội vã ra đi để chia sẻ niềm vui này với muôn người.

Là Giáo Lý viên, Chúa muốn chúng ta thay Người đồng hành với những học viên mà Người trao phó cho chúng ta. Chúa muốn chúng ta trở nên “những Kitô khác” để Người được hiện diện khắp nơi, với mọi người, qua chúng ta. Muốn chu toàn sứ vụ này, chúng ta phải giống Đức Kitô trong cách chúng ta đối xử với mọi người, đặc biệt là với những học viên mà Chúa trao cho chúng ta. Chúng ta cũng phải đồng hành với họ, cũng phải truyền tình yêu của Chúa cho họ làm cho lòng họ rộn ràng khi nghe Lời Chúa qua miệng chúng ta. Chúng ta phải biết đặt câu hỏi và biết lắng nghe như Chúa đã làm. Và nhất là chúng ta phải biết dùng Thánh Kinh để giải thích về Mầu Nhiệm của Đức Kitô cho họ. Đức Kitô phải là trọng tâm của chính đời sống chúng ta, để rồi chúng ta có thể nói cho người khác về Đức Kitô với nhiệt tình và đốt cháy lòng họ bằng tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta không phải chỉ dạy Giáo Lý trong lớp học mà phải đồng hành với học viên trên đường đời như Chúa đã đồng hành với các môn đệ. Đồng hành để dẫn họ đến Bàn Tiệc Thánh. Nơi đó họ gặp Đức Kitô Phục Sinh thực sự hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Nơi đó Chúa Giêsu trở thành thần lương nuôi dưỡng linh hồn họ, cùng làm cho họ tràn đầy niềm vui và hy vọng để họ trở về cuộc sống thường nhật đem niềm vui này đi chia sẻ với mọi người.

Còn chúng ta, chúng ta phải biến mất trước mặt họ sau khi họ đã nhận ra Đức Kitô Phục Sinh, như Chúa Giêsu đã biến đi trước mặt họ sau khi bẻ bánh. Đừng mong được nhớ ơn, đừng mong lời ca tụng, và nhất là đừng mong nhìn thấy kết quả của việc mình làm.

Lạy Chúa xin luôn đồng hành với con và những người Chúa trao phó cho con trên đường trần thế này, để chính Chúa dùng con mà an ủi, mà yêu thương và dạy dỗ họ. Để chính Chúa trở nên trọng tâm của đời họ và con. Để chúng con cùng nhau no thỏa nơi Bàn Tiệc Thánh của Chúa và đem Tin Mừng của Chúa vào thế gian đầy thất vọng này. Sau cùng xin cho con biết quên mình, biết nhỏ đi, hay chết đi trong lòng họ để Chúa được lớn lên và sinh hoa trái trong họ. Amen.

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2008

DUC THANH CHA NOI VE THIEN DANG, HOA NGUC VA PHEP HOA GIAO

Đức Thánh Cha nói về


THIÊN ĐÀNG, HỎA NGỤC VÀ PHÉP HÒA GIẢI

Vấn đề Thiên đàng và Hỏa ngục có hay không có đã được đặt thành vấn đề từ lâu, nhất là khi mà nền văn minh khoa học điện tử, vi tính lên đến cao độ như hiện nay.Trong một cuộc họp mặt vào ngày 7-2-2008 giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và các giáo sĩ / linh mục thuộc giáo phận Roma, có nhiều câu hỏi đã được đưa lên hỏi Đức Thánh Cha. Sau đây là một trong những câu hỏi do cha Pietro Riggi, linh mục Salesian thuộc dòng Borgo Ragazzi Don Bosco đưa lên Đức thánh cha. Chúng tôi xin lược dịch câu hỏi và phần giải đáp của Đức Thánh Cha Benedicto XVI. Hy vọng giúp chúng ta hiểu được thế nào là Thiên Đàng và Hỏa Ngục, thế nào là Tội và Bí Tích Hòa Giải.

Vấn đề:

Thưa Đức Thánh Cha, con hiện đang làm việc tại một trung tâm phục vụ trẻ em vị thành niên bị bỏ quên, xin hỏi Đức thánh Cha một vấn đề:

Ngày 25-3-2007 trong một bài giảng thuyết chính thức, Đức Thánh Cha đã rất lấy làm tiếc vì ngày nay người ta ít nói về “những chuyện cuối cùng” của đời người.

Thưa Đức thánh Cha, Đức Thánh Cha có nghĩ rằng khi người ta không còn tin vào những điểm chính yếu của Kinh Tin Kính, thì hệ thống lý luận giúp cho chúng ta hiểu được ơn cứu độ của Chúa Kitô có bị tan vỡ hay không? Nếu không có TỘI LỖI, ở đây chưa nói về hỏa ngục, thì ơn cứu độ của Chúa Kitô cũng bị giảm sút. Vậy thì Đức Thánh cha có nghĩ rằng khi người ta không còn ý niệm về tội lỗi thì hình ảnh thánh và cứu rỗi của một linh mục là người được Chúa ban quyền tha tội và tế lễ nhân danh Đức Kitô cũng bị mất đi hay sao?

Ngày nay, trong khi Phúc Âm thì nói về Hỏa Ngục, nhưng chúng con là những linh mục thì lại né tránh không muốn nói đến Hỏa Ngục. Chúng con cũng không biết phải nói làm sao về Thiên Đàng và nói thế nào về đời sống vĩnh cửu mai sau. Chúng con khó có thể xác định cho Niềm Tin một chiều kích mà không sợ bị sai lạc, một chiều kích chỉ có bề ngang hay nói đúng ra nó đã tách rời ra khỏi chiều thẳng đứng. Phải chăng đây là bước khởi đầu làm mất đi cấu trúc nền tảng của Giáo hội nói trong giáo lý dạy cho trẻ em và cho cả người lớn nữa.

Con cũng muốn nêu lên một điểm là chính Đức Trinh Nữ Maria cũng đã không sợ khi nói với mấy trẻ ở Fatima lúc đó cũng ở tuổi đang phải học giáo lý từ 7 đến 12, mà chính chúng con ngày nay rất nhiều lần đã bỏ qua không nói tới.

Thưa Đức Thánh Cha, xin Đức Thánh Cha nói rõ thêm cho chúng con về vấn đề này.

Giải đáp của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI:

Cha đã có lý khi nói về những vấn đề căn bản của Đức Tin mà ngày nay, tiếc thay, lại thấy ít đề cập đến trong những bài giảng của chúng ta. Trong thông điệp Spe Salvi, tôi đã nói về ngày phán xét cuối cùng –phán xét chung- trong bối cảnh một luyện tội, Hỏa ngục và cả Thiên Đàng. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang bị lấn cấn vì những phản bác của những người Marxists, họ cho rằng người Kitô hữu chỉ nói về đời sau mà bỏ quên thế giới thực tại đời nay.

Vậy tôi muốn nói cho các cha biết rằng chúng ta thực sự đang hành động để giúp đời, chúng ta không phải là những người chỉ nói về những truyện xa vời chẳng giúp ích được gì cho đời sống hiện tại. Tuy nhiên dù người Kitô hữu làm việc để giúp đời là chính đáng, bởi vì chúng ta được mời gọi để thực sự biến cải thế giới đời này thành một thế giới của Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, chúng ta cũng không được quên cái chiều kích kia. Nếu chúng ta không đếm xỉa đến chiều kích đó thì chúng ta chưa thực sự giúp đời một cách trọn vẹn.

Đây là một trong những mục đích chính của tôi khi viết thông điệp Spe Salvi. Khi một người không biết có sự phán xét của Thiên Chúa thì họ cũng không biết là có hỏa ngục, không biết là đời sống của họ đã bị hư hỏng thực sự đến tận gốc rễ, họ cũng không biết là có luyện tội và luyện tội cần thiết phải có. Lúc đó con người chẳng làm gì để giúp cho đời, bởi vì họ đã đánh mất những tiêu chuẩn của cuộc sống. Họ không còn biết chính bản thân họ, không nhận biết Thiên Chúa và họ đã phá hủy đời, phá hủy thế giới. Họ đã hứa hẹn những ý thức hệ lý tưởng tuyệt vời mà họ coi như sẽ cầm chắc trong tay, không còn có thể quên được đời và thế giới. Họ sẽ thiết tạo một thế giới mới, huynh đệ, chính xác và công bằng. Nhưng ngược lại họ đã phá hủy thế giới, như chúng ta đã thấy ở chế độ Nazi Đức Quốc Xã và chế độ Cộng Sản. Họ cũng thề hứa sẽ thiết lập một thế giới đúng với nghĩa của nó, nhưng trái lại họ đã phá hủy thế giới.

Trong những cuộc thăm viếng “ad limina” của các giám mục những quốc gia cựu cộng sản, tôi luôn luôn coi những quốc gia này không phải chỉ như là một hành tinh với những tương quan con người với nhau đã bị phá hoại, nhưng trên hết và còn tệ hơn nữa là những linh hồn, vấn đề tâm linh cũng bị hủy giệt. Tìm kiếm lại lương tâm thực của con người nhờ sự soi sáng của Thiên Chúa là bổn phận hàng đầu để tái tạo lại thế giới. Đây là một kinh nghiệm chung nơi những quốc gia này. Tái tạo lại thế giới, tôn trọng tiếng kêu than thống khổ của những con người sống trên hành tinh này chỉ có thể thành công bằng cách hồi sinh Thiên Chúa trong các tâm hồn với con mắt mở rộng đón nhận Thiên Chúa.

Vậy thì, cha nói có lý. Chúng ta phải nói lên tất cả trách nhiệm của ta đối với đời, với thế giới, với con người hiện còn đang sống. Chúng ta cần phải nói một cách rõ ràng về TỘI là thứ có khả năng phá hủy chính chúng ta và cả những phương diện khác của thế giới. Trong thông điệp Spe Salvi, tôi đã cố gắng chứng minh cho mọi người thấy rằng phán xét sau cùng của Chúa bảo đảm là có công bằng thực sự. Tất cả chúng ta ai cũng mong muốn một thế giới công bằng, nhưng chúng ta không thể sửa đổi được tất cả những gì ở quá khứ đã bị phá hủy, không thể đền bù cho tất cả những người bị hành hạ và giết chết một cách bất công. Chỉ có một mình Thiên Chúa là đấng có thể tạo nên công lý và công bằng cho tất cả mọi người, kẻ sống cũng như người chết. Adarno, một tay Marxist có hạng đã từng tuyên bố: “Chỉ có xác chết sống lại –mà ông cho đó chỉ là ảo tưởng- mới có thể tạo nên được công bằng / công lý”. Nhưng chúng ta tin rằng “Xác loài người ngày sau sống lại” mà không phải tất cả mọi người lúc đó đều ngang hàng đồng đều như nhau.

Ngày nay chúng ta thường suy nghĩ và thắc mắc “Tội là cái gì?”. Thiên Chúa thì vĩ đại và toàn năng, Ngài biết chúng ta, vậy tội lỗi sẽ không đáng kể và cuối cùng Thiên Chúa tốt lành sẽ khoan dung cho tất cả mọi người. Đó là một hy vọng tuyệt vời. Nhưng có tội thì cũng phải có công bằng. Những ai hủy giệt con người và thế giới thì không thể vào ngồi ngay lập tức cùng bàn với Thiên Chúa và những nạn nhân của họ được. Nên nhớ rằng Thiên Chúa tạo nên công bằng thì đối với tôi điều đó rất quan trọng khi tôi nói về lửa luyện tội, một sự thực hiển nhiên đối với tôi, hiển nhiên và cần thiết đến độ không thể bỏ qua không nói đến được.

Tôi cũng đã nói: Có lẽ không có nhiều người bị hủy giệt bằng cách này: Những người không thể nào cứu chữa được nữa, những người không còn một lý do nào để cho tình yêu Chúa đoái hoài đến, những người không có một khả năng tối thiểu để chấp nhận tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là hỏa ngục. Về một phương diện khác, chắc chắn cũng có một số ít người –không nhiều đâu- những người trong sạch đến độ có thể hiệp thông với Thiên Chúa ngay lập tức. Nhiều người trong chúng ta hy vọng rằng sẽ có một cái gì đó có thể rửa sạch tội lỗi, làm lành vết thương tâm hồn chúng ta, sẽ có một ăn năn hối hận và ước nguyện phút chót muốn tôn thờ Thiên Chúa và phụng sự con người, muốn sống một cuộc sống theo thánh ý Chúa. Nhưng sẽ có rất nhiều, rất nhiều vết thương tội lỗi thối tha, cho nên chúng ta cần phải được chuẩn bị và thanh tẩy. Đây là hy vọng của chúng ta: Mặc dù tâm hồn chúng ta đầy dẫy tội lỗi gớm ghiếc, nhưng trong giờ phút chót, Chúa cũng cho chúng ta khả thi cuối cùng có thể thanh tẩy chúng ta nhờ lòng khoan dung đại lượng của Chúa trên thập giá. Với phương cách đó, Chúa giúp chúng ta có thể sống hạnh phúc vĩnh cửu đời đời với Chúa.

Vậy thiên đàng hẳn phải là một HY VỌNG. Đó là lẽ công bằng sau cùng phải được thực hiện. Thiên đàng cũng chỉ cho chúng ta những tiêu chuẩn để sống. Vì thế sống ở đời này, một cách nào đó, cũng có thể là thiên đàng vậy, một dấu hiệu tiên khởi của Thiên Đàng. Khi con người biết sống theo những tiêu chuẩn đó thì đã thấy chút ít dấu hiệu của thiên đàng xuất hiện ở trên đời này rồi. Đó là thiên đàng hữu hình. Đối với tôi, chúng ta cần phải nói nhiều hơn nữa để chứng minh niềm Tin có thật và sự cần thiết phải đi theo con đường mà giới răn Chúa đã chỉ dạy. Đây chính là những tấm bảng chỉ đường giúp chúng ta sống lương thiện và phải chọn lựa cuộc sống cho thích hợp. Vì lý do đó, chúng ta buộc phải nói về tội và phép bí tích hòa giải tha thứ. Một người thành thực là người tự nhận biết mình có tội, đã đi sai đường, nên phải quay trở lại và được thanh tẩy. Đây là một thực tế sáng ngời mà Thiên Chúa đã cho chúng ta là Khả năng canh tân để trở nên con người mới. Từ đó Chúa lại bắt đầu đồng hành với chúng ta, cùng một phương thức đó chúng ta lại bắt đầu đồng hành với tha nhân trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Hính thức canh tân, sửa đổi con người chúng ta sau nhiều lỗi lầm và tội lỗi chính là một hứa hẹn lớn lao, một tặng vật vô giá mà Giáo Hội đã ban cho chúng ta mà phương cách tâm lý trị liệu chẳng hạn, không thể nào cung ứng được. Phương pháp tâm lý trị liệu ngày nay rất phổ quát, nó cũng rất cần thiết trước biết bao nhiêu là đổ nát hủy hoại trầm trọng về tâm thần. Nhưng khả thi tâm lý trị liệu thì lại giới hạn, nó chỉ có thể làm cho những tâm hồn bị lệch lạc trở lại cân bằng một phần nào thôi. Nó không thể canh tân thực sự được con người, không thể vượt thắng mọi bệnh hoạn trầm trọng của linh hồn. Vì vậy nó vẫn chỉ là tạm bợ, không bao giờ có thể giải quyết dứt điểm được vấn đề.

Bí tích hòa giải là cơ hội giúp chúng ta canh tân một cách trọn vẹn nhờ quyền năng của Thiên Chúa. “Ta tha tội cho con – Ego te absolve” là câu nói thực sự khả thi bởi lẽ chính Chúa Kitô đã gánh tội, chuộc lấy tất cả lỗi lầm của chúng ta đổ trên Ngài. Ngày nay bí tích này thực sự rất cần thiết. Chúng ta có thể được chữa lành trở lại. Như tất cả chúng ta đều biết: Linh hồn chúng ta đã bị tổn thương và trở thành bệnh hoạn nên không những cần phải được khuyên giải mà còn cần được canh tân thực sự, một sự canh tân chỉ có thể làm được do quyền năng của Thiên Chúa, quyền năng của Tình yêu thập tự. Đối với tôi, đây có vẻ như là một kết hợp vĩ đại giữa các nhiệm tích đã thực sự được ghi khắc trong đời chúng ta. Chúng ta cần phải chiêm nghiệm về những mầu nhiệm đó để rồi theo cùng một phương thức ấy, chúng ta lại truyền đạt nó cho những người anh em giáo dân của chúng ta.

Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II

Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II

cho Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện cho Ơn Gọi

(ngày 17 tháng 4 năm 2005)

Chủ đề: "Được mời gọi ra khơi".

1. Chủ đề của Ngày Quốc tế cầu nguyện cho Ơn Gọi năm 2005 là gì? Mục tiêu để làm gì?

T. Chủ đề Ngày Quốc tế Cầu Nguyện cho Ơn Gọi năm 2005 là: "Được mời gọi ra khơi!". Đây là giây phút ưu tuyển để giúp ta suy nghĩ về Ơn gọi theo Chúa Giêsu, đặc biệt trong đời linh mục và đời tận hiến.

2. ĐTC đã dựa vào biến cố Phúc âm nào để làm khung gợi ý ?

T. ĐTC dựa vào biến cố Phúc âm Luca 5,4: Chúa Giêsu nói với Phêrô: "Hãy ra khơi!" Phêrô và các bạn đồng nghiệp tin tưởng vào những Lời của Chúa Kitô, đã ra khơi thả lưới và đã bắt một mẻ cá hết sức kỳ diệu.

3. Mệnh lệnh “Hãy Ra Khơi” có tính cách thời sự như thế nào?

T. Mệnh lệnh "Hãy ra khơi!" của Chúa Giêsu mang tính thời sự đặc biệt trong thời đại chúng ta, vì hiện đang có một tâm thức khá phổ biến, cổ võ cho thái độ muốn rút lui trước những khó khăn.

4. Điều kiện đầu tiên để “Ra khơi” là gì?

T. Điều kiện đầu tiên để "ra khơi" là:

- vun trồng một tinh thần cầu nguyện sâu xa,

- được nuôi dưỡng hằng ngày bởi việc lắng nghe Lời Chúa.

5. Đời sống kitô hữu đích thực của được đo lường bởi việc gì?

T. Đời sống kitô hữu đích thực được đo lường bởi đặc tính sâu xa của đời cầu nguyện.

6. Cầu nguyện là một nghệ thuật được khiêm tốn học từ đâu?

T. Cầu nguyện là một nghệ thuật được khiêm tốn học lấy "từ môi miệng của Thầy Chí Thánh", dường như thể chúng ta khẩn cầu như những môn đệ đầu tiên: "Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện!" (Lc 11,1).

7. Đối thoại với Chúa Kitô trong cầu nguyện, ta được gì?

T. Trong cầu nguyện, ta được đối thoại với Chúa Kitô, Đấng sẽ biến chúng ta thành những kẻ thân tín của Người: "Hãy ở lại trong Thầy và Thầy trong chúng con!" (Gn 15,4)

8. Đâu là mối giây liên kết với Chúa Kitô trong lời cầu nguyện?

T. Mối giây liên kết với Chúa Kitô trong lời cầu nguyện là làm cho chúng ta chú ý đến sự hiện diện của Chúa Kitô, cả trong những giây phút xem ra như bị thất bại, khi sự cực nhọc xem ra như vô ích, như đã xảy ra cho các tông đồ; các ông đã mệt nhọc suốt đêm, rồi thưa cùng Chúa rằng: "Lạy Thầy, chúng con không bắt được con cá nào cả! (Lc 5,5).

9. Những lúc xem ra bị thất bại, cực nhọc, vô ích, ta cần phải làm gì?

T. Trong những lúc ấy, ta cần phải mở rộng tâm hồn đón nhận dòng ân sũng và để cho Lời của Chúa Kitô "Hãy ra khơi!" được tác động với hết sức mạnh của nó.

10. Lợi ích của việc mở rộng tâm hồn cho Chúa Kitô là gì?

T. Ai mở rộng tâm hồn cho Chúa Kitô, thì người đó:

- hiểu được mầu nhiệm của chính cuộc đời mình,

- hiểu được mầu nhiệm của ơn gọi mình,

- và trổ sinh những hoa trái tuyệt vời nhờ ân sũng Chúa.

11. Hoa trái đầu tiên trong số những hoa trái tuyệt vời đó là gì?

T. Hoa trái đầu tiên đó là được lớn lên trong sự thánh thiện trên con đường thiêng liêng, được bắt đầu với hồng ân Bí Tích Rửa Tội, và được tiếp tục cho đến lúc đạt đức ái trọn hảo.

12. Sống Phúc âm cách trọn vẹn, người kitô hữu có khả năng nào?

T. Sống Phúc âm cách trọn vẹn, người kitô hữu có khả năng yêu thương theo cách thức của Chúa Kitô, Đấng đã nói: "Chúng con hãy nên trọn lành, như Cha chúng con trên trời" (Mt 5, 48).

13. Sống Phúc âm trọn vẹn, người kitô đó dấn thân như thế nào?

T. Sống Phúc âm trọn vẹn, người kitô đó dấn thân :

- kiên trì sống hiệp nhất với anh chị em trong sự hiệp thông của Giáo hội,

- sẵn sàng phục vụ cho công cuộc tái rao giảng phúc âm,

- để công bố và làm chứng cho sự thật đáng khâm phục về tình thương cứu rỗi của Thiên Chúa.

14. Nhắc lại lời mời gọi “Hãy ra khơi”, ĐTC thôi thúc giới trẻ ngày nay cách đặc biệt về điều gì?

T. ĐTC thôi thúc giới trẻ ngày nay: “Đã đến lúc chúng con phải có những quyết định quan trọng cho tương lai của mình”.

15. ĐTC hiểu gì về tâm hồn người trẻ? Họ cần gì?

T. ĐTC hiểu rõ rằng trong tâm hồn của những người trẻ:

- có sức hấp dẫn mạnh mẽ về những giá trị tinh thần,

- và sự thành thực muốn sống thánh thiện.

- Họ cần đến Chúa Kitô, nhưng họ cũng biết rằng Chúa Kitô đã muốn cần đến họ.

16. ĐTC khuyên nhủ giới trẻ quy hướng về Chúa Kitô thế nào?

T. ĐTC khuyên nhủ: “Hỡi những người trẻ nam nữ, chúng con :

-Hãy tin tưởng vào Chúa Kitô;

-Hãy đặt mình lắng nghe những giáo huấn của Chúa,

-Hãy nhìn ngắm dung nhan Chúa,

-Hãy kiên trì trong việc lắng nghe Lời Chúa.

-Hãy để cho Chúa làm kẻ hướng dẫn cuộc tìm kiếm và khát vọng của chúng con, hướng dẫn mọi lý tưởng và ao ước của con tim chúng con.”

17. ĐTC nhắc nhủ các bậc phụ huynh, LM, TS, GLV cần giúp giới trẻ điều gì?

T. ĐTC nhắc nhủ họ rằng:

- hãy nhớ trách vụ đặc biệt là hướng dẫn giới trẻ sống thánh thiện.

- hãy là những mẫu gương cho giới trẻ sống trung thành và quảng đại.

- hãy khuyến khích các bạn trẻ đừng do dự "ra khơi", bằng cách mau mắn đáp trả lời mời gọi của Chúa.

- hãy giúp những người trẻ biết phân biệt đâu là con đường của họ,

- biết trở thành những người bạn đích thật của Chúa Kitô và là những đồ đệ thật của ngài.

18. Khi người lớn làm gương sáng thì ảnh hưởng người trẻ thế nào?

T. Khi những người lớn tin Chúa, biết làm cho dung mạo Chúa Kitô được nhìn thấy bằng những lời nói và gương sáng của họ, thì những người trẻ sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận sứ điệp có tính cách đòi hỏi của Chúa, một sứ điệp được ghi dấu bởi mầu nhiệm Thập Giá.

19. ĐTC nhắc nhở thời đại ngày nay đang cần gì?

T. ĐTC nhắc rằng: “trong thời đại hôm nay, vẫn còn cần có những linh mục thánh thiện, cần những tâm hồn hoàn toàn tận hiến cho việc phục vụ Thiên Chúa!”

20. ĐTC muốn điều cần thiết và cấp bách về Ơn gọi là làm gì?

T. ĐTC muốn: "Điều cần thiết và khẩn cấp là thiết lập một chương trình mục vụ rộng lớn và có tổ chức chặt chẽ về Ơn gọi, cho đến tận các giáo xứ, các trung tâm giáo dục, các gia đình, vừa khơi dậy một suy tư nghiêm chỉnh hơn về những giá trị thiết yếu của đời sống.

21. Những giá trị thiết yếu của đời sống được thể hiện thế nào?

T. Những giá trị thiết thiết yếu đời sống được thể hiện qua sự đáp trả lời Thiên Chúa mời gọi, nhất là khi lời mời gọi này đòi hỏi một sự hiến dâng hoàn toàn chính bản thân và năng lực của mình cho công cuộc Nước Chúa.

22. ĐTC nhắc lại cho giới trẻ biết lời yêu cầu nào của Chúa Giêsu và lời khuyến khích nào của Đức Mẹ?

T. Chúa Giêsu yêu cầu “Hãy ra khơi”, còn Đức Mẹ Maria nhắc bảo: “Hãy làm điều Ngài truyền”, như khuyến khích người trẻ đừng do dự theo Chúa.

23. Trong ngày ơn gọi, ĐTC muốn ta dâng lời nguyện xin điều gì?

T. ĐTC muốn ta hiệp lời cầu nguyện sốt mến, dâng lên Thiên Chúa Cha trên trời, để xin cho có những thợ "đến làm mùa" (Mt 9,38). Xin Chúa ban những linh mục sốt sắng và thánh thiện cho mọi cộng đoàn Dân Chúa.

Ý nghĩa lời nguyện kết:

24. Chúa mời gọi tất cả những kẻ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội điều gì?

T. Chúa mời gọi tất cả những kẻ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội “Hãy ra khơi”, vừa tiến bước trên con đường thánh thiện.

25. Xin khơi dậy ước muốn nào nơi tâm hồn người trẻ?

T. Xin khơi dậy nơi tâm hồn người trẻ ước muốn trở nên những chứng nhân cho sức mạnh của tình yêu Chúa, giữa lòng thế giới ngày nay.

26. Xin ban tràn đầy Thánh Thần để người trẻ có khả năng nào?

T. Xin đổ tràn đầy xuống trên các người trẻ Thánh Thần Chúa, Thánh Thần của sức mạnh và sự khôn ngoan, ngõ hầu họ có khả năng khám phá sự thật trọn vẹn về chính mình và về ơn gọi riêng của mình.

27. Xin ban cho Giáo Hội có những người trẻ nào?

T. Xin ban cho Giáo hội Chúa có được những con người trẻ sẵn sàng ra khơi, để thể hiện giữa anh chị em sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện canh tân và cứu rỗi.

27. Xin Mẹ Maria nâng đỡ các gia đình, các cộng đoàn, để trợ giúp giới trẻ điều gì?

T. Với lời khẩn cầu hiền mẫu của Mẹ, xin hãy nâng đỡ các gia đình và các cộng đoàn Giáo hội, ngõ hầu các gia đình, các cộng đoàn nầy biết trợ giúp cho những người trẻ và các thiếu niên, biết đáp lại cách quảng đại lời mời gọi của Chúa.

(Lm François VIET)

Lời nguyện kết

Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, nơi ngài có trọn vẹn thần tính ẩn ngự.

Chúa mời gọi tất cả những kẻ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội “Hãy ra khơi”, vừa tiến bước trên con đường thánh thiện.

Xin hãy khơi dậy nơi tâm hồn người trẻ ước muốn trở nên những chứng nhân cho sức mạnh của tình yêu Chúa, giữa lòng thế giới ngày nay.

Xin hãy đổ tràn đầy xuống trên các người trẻ Thánh Thần Chúa, Thánh Thần của sức mạnh và sự khôn ngoan, ngõ hầu họ có khả năng khám phá sự thật trọn vẹn về chính mình và về ơn gọi riêng của mình.

Lạy Đấng cứu chuộc chúng con, Chúa được Thiên Chúa Cha sai xuống trần gian để mạc khải tình thương nhân từ của Thiên Chúa, xin hãy ban cho Giáo hội Chúa có được những con người trẻ sẵn sàng ra khơi, để thể hiện giữa anh chị em sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện canh tân và cứu rỗi.

Lạy Đức Nữ Đồng Trinh rất thánh, Mẹ của Đấng cứu chuộc, vị hướng dẫn an toàn trên con đường tiến về Thiên Chúa và anh chị em; Mẹ đã lưu giữ những lời Chúa phán trong cõi thâm sâu của tâm hồn Mẹ; với lời khẩn cầu hiền mẫu của Mẹ, xin hãy nâng đỡ các gia đình và các cộng đoàn Giáo hội, ngõ hầu các gia đình, các cộng đoàn nầy biết trợ giúp cho những người trẻ và các thiếu niên, biết đáp lại cách quảng đại lời mời gọi của Chúa. Amen.

+Gioan Phaolô II, Giáo hoàng (Roma 11/08/2004)

(Dựa theo Bản dịch của Đặng Thế Dũng)

SU DIEP CUA DUC THANH CHA XVI GUI GIOI TRE 2008

Sứ điệp của Đức thánh cha Bênêđictô thứ 16
nhân ngày Quốc tế Giới trẻ lần thứ 23, năm 2008

“CÁC CON PHẢI NÊN THÁNH VÀ PHẢI LÀ NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO”

“Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên các con; và các con sẽ trở thành chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8).

Các bạn trẻ thân mến,

1.Ngày quốc tế giới trẻ lần thứ 23

Cha rất vui mừng nhớ đến những kỷ niệm mà chúng ta đã cùng trãi qua tại Cologne , vào tháng 8 năm 2005. Vào cuối kỳ đại hội của niềm tin và sự hăng say khó quên, một biến cố vẫn còn khắc sâu trong tâm trí cha, cha đã hẹn với các con vào lần gặp gỡ tới, được tổ chức tại Sydney vào năm 2008. Đây sẽ là kỳ đại hội quốc tế giới trẻ lần thứ 23, với chủ đề: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần, khi Ngài ngự xuống trên các con; và các con sẽ trở thành chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8). Chủ đề chính yếu của việc chuẩn bị tâm hồn cho kỳ gặp gỡ của chúng ta tại Sydney là Chúa Thánh Thần và việc truyền giáo. Vào năm 2006, chúng ta đã tập trung sự chú ý vào Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý. Và bây giờ trong năm 2007, chúng ta sẽ tìm hiểu một cách sâu xa hơn về Thần Tình Yêu. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình tiến đến ngày quốc tế giới trẻ 2008 bằng việc suy tư về Thần Sức Mạnh và Chứng Nhân nhằm giúp chúng ta can đảm sống và mạnh dạn rao giảng Tin Mừng. Vì thế, thật quan trọng khi mỗi người trẻ chúng con, trong các cộng đoàn của mình, cùng với những người có trách nhiệm giáo dục chúng con, nên suy tư về Tác Nhân Chính Yếu của lịch sử cứu độ là Chúa Thánh Thần hay Thần Khí của Chúa Giêsu. Bằng cách này, các con có thể gặt hái được những thành quả tốt đẹp: nhận ra được căn tính đích thật của Thần Khí, trước hết bằng việc lắng nghe Lời Chúa trong Mạc Khải của Thánh Kinh; nhận thức cách rõ ràng sự hiện diện liên lĩ và sống động của Ngài trong đời sống Giáo Hội, đặc biệt khi các con tái khám phá Chúa Thánh Thần chính là “linh hồn”, hơi thở sống động của chính đời sống Kitô hữu, qua các bí tích khai tâm Kitô giáo như: Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể; nhờ đó hiểu biết về Chúa Giêsu sẽ ngày càng triển nở cách sâu sắc và hân hoan hơn, và đồng thời đem Tin Mừng ra thực hành trong bình minh của thiên niên kỷ thứ ba này. Trong sứ điệp này, cha vui mừng gởi đến các con những nét đại cương để suy niệm mà các con có thể múc lấy trong suốt năm chuẩn bị này. Bằng cách này, các con có thể kiểm chứng lại phẩm chất đức tin của các con vào Chúa Thánh Thần, hãy tái khám phá điều đó nếu nó đã mất, hãy gia tăng sức mạnh nếu nó đã yếu kém, hãy nếm hưởng nó trong tình thân hữu với Thiên Chúa Cha và với Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, nhờ vào họat động không thể thiếu được của Chúa Thánh Thần. Các con đừng bao giờ quên rằng Giáo Hội, trong thực tế là chính nhân loại, là tất cả mọi người xung quanh các con lúc này và tất cả những ai đang chờ đợi các con ở tương lai, đòi hỏi rất nhiều nơi những người trẻ các con, bởi vì các con có nơi mình món quà cao quý nhất của Chúa Cha, là Thần Khí của Chúa Giêsu.

2. Lời hứa của Chúa Thánh Thần trong Kinh Thánh

Việc lắng nghe một cách chăm chú Lời Chúa liên quan mầu nhiệm và họat động của Chúa Thánh Thần mở ra cho chúng ta những hiểu biết lớn lao và sâu sắc mà cha sẽ tóm lượt trong những điểm sau đây.

Ít lâu trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Phần Thầy, Thầy sẽ ban cho anh em điều Cha Thầy đã hứa” (Lc 24,49). Điều này đã diễn ra trong ngày Lễ Hiện xuống, khi họ tụ họp với nhau cầu nguyện trong Căn Phòng Trên Gác cùng với Đức Trinh Nữ Maria. Việc đổ tràn Thánh Thần trên Giáo Hội sơ khai chính là việc ứng nghiệm những gì đã được Thiên Chúa hứa thuở ban đầu, đã được loan báo và được chuẩn bị trong Cựu Ước.

Thật vậy, ngay từ những trang đầu, Thánh Kinh trình bày thần khí của Thiên Chúa như làn gió “bay lượn trên mặt nước” (x. St 1,2). Thánh Kinh nói rằng Thiên Chúa đã thổi hơi thở sự sống vào mũi của con người (x. St 2,7), và qua đó sự sống tràn ngập nơi con người. Sau tội nguyên tổ, thần khí của Thiên Chúa mang lại sự sống thỉnh thoảng cũng được nhận ra trong lịch sử của nhân loại, bằng cách thôi thúc các tiên tri kêu gọi Dân Tuyển Chọn trở về với Thiên Chúa và trung thành tuân theo các huấn lệnh của Ngài. Trong thị kiến nổi tiếng của tiên tri Ezekiel, Thiên Chúa cùng với thần khí của Ngài phục hồi lại sự sống của dân Do Thái, được biểu trưng bằng “những bộ xương khô” (x. Ed 37, 1-14). Tiên tri Joel đã tiên báo về “việc đổ tràn thần khí” trên muôn dân nước, không loại trừ một ai. Tác giả sách thánh đã viết rằng: “Và sau đó sẽ đến lúc Ta sẽ đổ tràn đầy thần khí của Ta trên tất cả người phàm… Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ tràn thần khí Ta trên tôi nam và tớ nữ” (Jo 3,1-2).
“Trong thời viên mãn” (Gal 4,4), thiên thần Chúa đã loan báo cho Trinh Nữ thành Nazareth rằng Chúa Thánh Thần, “quyền năng của Đấng Tối Cao”, sẽ ngự đến và bao phủ lấy bà. Con trẻ được sinh ra sẽ là đấng thánh và được gọi là Con Thiên Chúa (x. Lc 1,35). Theo những lời của tiên tri Isaia, Đấng Messia sẽ là người được thần khí của Thiên Chúa ngự đến (x. 11,1-2; 42,1). Đây cũng là lời tiên tri mà Chúa Giêsu áp dụng lại vào lúc khởi đầu của sứ vụ công khai của Người tại hội đường Nazareth . Trước sự kinh ngạc của những người hiện diện, Người nói: “Thần khí của Thiên Chúa ngự xuống trên tôi, bởi vì Ngài đã xức dầu cho Tôi và sai Tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Ngài đã sai Tôi đi công bố ơn giải thoát cho cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa.” (Lc 4, 18-19; x. Is 61, 1-2). Ngỏ lời với với những người hiện diện, Người áp dụng những lời tiên tri này vào chính bản thân mình khi nói rằng: “Hôm nay ứng nghiệm đọan Kinh Thánh mà tai quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Hơn nữa, trước khi chịu chết trên Thập giá, Người cũng đã nhiều lần nói với các môn đệ về việc xuất hiện của Chúa Thánh Thần, “Đấng An Ủi” mà sứ mạng của Ngài là làm chứng cho Người và trợ giúp các tín hữu bằng việc dạy dỗ và dẫn đưa họ đến sự toàn vẹn của Chân Lý (x. Ga 14,16-17. 25-26; 15,26; 16,13).

3.Lễ Hiện xuống, điểm xuất phát cho sứ mạng của Giáo Hội

Vào chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu hiện đến với các môn đệ, “Người thổi hơi trên các ông và bảo các ông: “Hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22). Với sức mạnh lơn lao hơn, Chúa Thánh Thần đã xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Hiện xuống. Chúng ta đọc được trong Tông đồ Công vụ: “Và bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một” (Cv 2,2-3).

Chúa Thánh Thần đã đổi mới các Tông đồ từ bên trong, ban tràn đầy sức mạnh cho họ để họ can đảm ra đi và mạnh dạn công bố rằng: “Đức Kitô đã chết và đã sống lại!”. Thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi, họ bắt đầu công khai loan báo với niềm xác tín (x. Cv 2,29; 4,13; 4,29.31). Những người đánh cá nhát đảm này đã trở thành những sứ giả gan dạ của Tin Mừng. Ngay cả những kẻ thù của họ cũng không thể nào hiểu nỗi làm thế nào mà những người “không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân” (x. Cv 4,13) lại có thể trở nên can đảm và chịu đựng được những khó khăn, đau khổ và bách hại với niềm hân hoan. Không có gì có thể ngăn cản họ. Đối với những ai cố gắng bắt họ im tiếng, họ đáp lại rằng: “chúng tôi không thể không công bố những gì chúng tôi đã chứng kiến và được nghe” (Cv 4,20). Đây là cách thức mà Giáo Hội đã được khai sinh, và từ ngày lễ Hiện Xuống, Giáo Hội không ngừng loan báo Tin Mừng “đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

4. Chúa Thánh Thần, linh hồn của Giáo Hội và nguyên lý của sự hiệp thông

Nếu chúng ta muốn hiểu sứ mạng của Giáo Hội, chúng ta phải quay trở về Căn Phòng Trên Gác, nơi mà các Tông đồ đã quy tụ với nhau (x. Lc 24,49), và cùng cầu nguyện với Đức Maria, là “Người Mẹ”, mong đợi Chúa Thánh Thần, là đấng được hứa ban xuống cho các ngài. Hình ảnh của Giáo Hội thời sơ khai nên là nguồn cảm hứng thường hằng cho mỗi cộng đoàn Kitô hữu. Thành quả của các Tông đồ và của các nhà truyền giáo trên căn bản không dựa vào những chương trình hay các phương pháp mục vụ được vận dụng cách khéo léo và hiệu quả, nhưng chính là kết quả của việc cầu nguyện thường xuyên của cộng đoàn (x. Evangelii Nuntiandi, 75). Hơn nữa, để việc truyền giáo đạt hiệu quả, các cộng đoàn phải được hợp nhất, điều đó có nghĩa là, họ phải “một lòng và một ý” (Cv 4,32), và họ phải sẵn sàng làm chứng cho tình yêu và niềm hân hoan mà Chúa Thánh Thần đã nhuần thấm trong tâm hồn của các tín hữu (Cv 2,42). Vị tôi tớ của Thiên Chúa là Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết rằng, quan trọng hơn cả hoạt động, sứ mạng của Giáo Hội trước tiên là làm chứng và sống theo cách thức có thể tỏ lộ cho người khác thấy (x. Redemptoris Missio, 26). Tertullianô cho chúng ta biết về những gì đã xãy ra vào những ngày đầu của Kitô giáo, những người ngoại giáo đã trở lại đạo khi họ nhìn thấy sự ngự trị của tình yêu giữa các Kitô hữu: “Hãy nhìn xem họ yêu thương nhau dường nào” (Hộ giáo, 39 § 7).

Để kết luận cho đoạn phân tích ngắn gọn về lời Chúa trong Thánh Kinh, cha mời gọi các con hãy nhận ra Chúa Thánh Thần chính là hồng ân cao quý nhất của Thiên Chúa dành cho con người và từ đó nhận ra bằng chứng cao cả của tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, một tình yêu được diễn tả cách đặc biệt bằng “lời xin vâng với sự sống” mà Thiên Chúa muốn dành cho mọi loài thụ tạo. Tiếng đáp “xin vâng với sự sống” này đạt đến sự viên mãn nơi Chúa Giêsu thành Nazareth và trong chiến thắng của Người trên sự dữ bằng việc cứu chuộc. Về khía cạnh này, chúng ta đừng quên rằng Tin Mừng của Chúa Giêsu, cách chính xác được linh hứng bởi Chúa Thánh Thần, không thể bị giảm thiểu như cách trình bày sự kiện, bởi vì Tin Mừng đựơc viết ra với mục đích là “tin vui cho người nghèo, sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, ánh sáng cho kẻ mù loà…”. Những gì nhận thấy trong ngày lễ Ngũ Tuần có sức sống mãnh liệt làm sao, vì nó trở thành ân sủng và trách nhiệm của Giáo Hội đối với thế giới, là sứ mạng ưu tiên của Giáo Hội!

Chúng ta chính là hoa trái của sứ mạng này của Giáo Hội dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta mang theo nơi mình Chúa Thánh Thần là dấu ấn tình yêu của Thiên Chúa Cha nơi Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta đừng bao giờ quên điều này, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa luôn nhắc nhớ mỗi cá nhân, và mong muốn khơi dậy làn gió và ngọn lửa của một lễ Hiện xuống mới trong thế giới, đặc biệt qua các bạn là những người trẻ.

5.Chúa Thánh Thần là “Thầy Dạy đời sống nội tâm”

Các bạn trẻ thân mến, ngày nay Chúa Thánh Thần bằng sức mạnh của Ngài vẫn còn tiếp tục họat động trong Giáo Hội, và hoa trái của Thần Khí càng gia tăng cách dồi dào trong chúng ta khi chúng ta biết mở lòng mình ra đón lấy sức mạnh này để đổi mới mọi sự. Với lý do này, điều quan trọng là mỗi người trong chúng ta phải nhận biết Thần Khí ấy và sống tương quan với Ngài và để Ngài hướng dẫn chúng ta. Tuy nhiên, về điều này, một vấn đề nẩy sinh một cách tự nhiên: Chúa Thánh Thần đối với tôi là Đấng nào? Thực tế, đối với nhiều Kitô hữu, Ngài vẫn là “Đấng Vô Danh”. Đó là lý do tại sao, khi chúng ta chuẩn bị cho ngày quốc tế giới trẻ sắp tới, cha muốn mời gọi các con tìm hiểu về Chúa Thánh Thần cách sâu sắc hơn trên bình diện cá nhân. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng rằng: “Tôi tin kính Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra” (Kinh Tin Kính Nicea-Constantinopoli). Vâng, Chúa Thánh Thần là Thần Khí tình yêu của Cha và Con, là cội nguồn của sự sống làm cho chúng ta nên thánh, “vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Tuy nhiên, điều đó chưa đủ cho chúng ta biết về Chúa Thánh Thần, chúng ta phải đón nhận Ngài như là người hướng dẫn tâm hồn chúng ta, như là “Thầy Dạy đời sống nội tâm” giới thiệu cho chúng ta về mầu nhiệm Ba Ngôi, bởi vì chỉ có Ngài mới khai mở đức tin cho chúng ta và cho phép chúng ta sống đức tin ấy mỗi ngày một hoàn hảo. Thần Khí thúc đẩy chúng ta hướng đến những người khác, nhóm lên trong chúng ta ngọn lửa tình yêu, làm cho chúng ta trở nên những nhà truyền giảng về lòng thương xót của Thiên Chúa.

Cha luôn biết những người trẻ các con, nơi tâm hồn mình, hiểu biết rất rõ về Đức Giêsu và yêu mến Người, và các con rất mong ước được gặp Người và trò chuyện cùng Người. Tuy vậy, các con nên nhớ cách xác quyết rằng Chúa Thánh Thần hiện diện bên trong mỗi người chúng ta sẽ củng cố, thiết lập và xây dựng nhân vị chúng ta trên Ngôi vị của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh. Do đó, chúng ta phải kết thân với Chúa Thánh Thần, để Ngài kết thân chúng ta với Chúa Giêsu.

6. Bí tích Thêm sức và Thánh thể

Có lẽ các con sẽ hỏi rằng chúng ta phải làm thế nào để cho Chúa Thánh Thần canh tân bản thân và gia tăng đời sống thiêng liêng nơi chúng ta? Như các con biết, chúng ta có thể trả lời rằng: chúng ta có thể thực hiện điều đó qua các Bí tích, vì đức tin được khai sinh và được lớn lên trong chúng ta nhờ các Bí tích, đặc biệt là các Bí tích khai tâm Kitô giáo: Rửa tội, Thêm sức và Thánh thể là những Bí tích căn bản và không thể tách rời (x. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1285). Chân lý liên quan đến ba bí tích khai sinh chúng ta trong đời sống Kitô hữu có lẽ bị sao lãng trong đời sống đức tin của nhiều Kitô hữu. Họ xem các bí tích này như những sự kiện đã đi vào quá khứ và không hề có một giá trị thật sự nào trong cuộc sống hiện tại, điều đó giống như những rễ cây đánh mất đi dưỡng chất mang lại sự sống. Điều này cũng xảy ra với nhiều người trẻ xa rời đời sống đức tin sau khi lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Cũng có những người trẻ chưa hề lãnh nhận bí tích này. Tuy nhiên, qua Bí tích Rửa tội, Thêm sức và tiếp đến là Bí tích Thánh Thể, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa Cha, thành anh chị em của Chúa Giêsu, là thành viên của Giáo Hội, có khả năng trở thành chứng nhân đích thực của Tin Mừng, và có thể nếm hưởng được sự hoan lạc trong đức tin.

Do đó cha mời gọi các con hãy suy nghĩ về những gì cha viết cho các con. Ngày nay, đặc biệt rất cần thiết để tái khám phá Bí tích Thêm sức và vai trò quan trọng của nó trong việc phát triển đời sống tâm linh của chúng ta. Những ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức nên nhớ rằng họ đã trở nên “những đền thờ của Chúa Thánh Thần”: Thiên Chúa cư ngụ trong họ. Các con hãy luôn nhận thức điều này và cố gắng để gia tài quý giá này mang đến cho các con những hoa trái thánh thiện. Đối với những ai đã rửa tội nhưng chưa lãnh nhận Bí tích Thêm sức, hãy chuẩn bị để lãnh nhận và nên biết rằng bằng cách này các con sẽ trở nên những Kitô hữu “hoàn hảo”, bởi vì Bí tích Thêm sức làm hoàn thiện hồng ân đã lãnh nhận khi Rửa tội. (x. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1302-1304).

Bí tích Thêm sức ban cho chúng ta sức mạnh đặc biệt để làm chứng và tôn vinh Thiên Chúa trong suốt cuộc đời chúng ta (x. Rm 12,1). Trước hết, bí tích này giúp chúng ta nhận ra chúng ta thuộc về Giáo Hội, “Nhiệm Thể Chúa Kitô”, mà tất cả chúng ta là những chi thể sống động, trong sự liên đới với nhau (x. 1Cr 12, 12-25). Khi để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, mỗi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội có thể góp phần vào việc xây dựng Giáo Hội bằng những đặc sủng được Chúa Thánh Thần ban tặng, “vì Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (x. 1Cr 12,7). Khi Thánh Thần họat động, Ngài ban cho linh hồn những hoa quả của Ngài, như “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (x Gal 5,22). Đối với những ai trong các con chưa lãnh nhận Bí tích Thêm sức, cha chân thành mời gọi hãy chuẩn bị lãnh nhận bí tích này, và tìm sự trợ giúp nơi các linh mục của các con. Đó chính là cơ hội đặc biệt của ân sủng mà Thiên Chúa tặng ban cho các con. Đừng bỏ lỡ cơ hội này!

Cha cũng muốn nói về Bí tích Thánh Thể. Để lớn lên trong đời sống Kitô hữu, chúng ta cần được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu của Đức Kitô. Thực vậy, chúng ta được rửa tội và được thêm sức nhằm hướng đến Bí tích Thánh Thể (x. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, 1322; “Sacramentum Caritatis”, 17). “Cội nguồn và chóp đỉnh” của đời sống Giáo Hội, Bí tích Thánh Thể là “lễ Hiện xuống không ngừng”, bởi vì mỗi giây phút chúng ta cử hành Thánh lễ là chúng ta lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đấng liên kết chúng ta mật thiết với Đức Kitô và biến đổi chúng ta nên giống Người. Các bạn trẻ thân mến của cha, nếu các con thường xuyên tham dự cử hành Thánh thể, nếu các con dành thời gian để tôn sùng Bí tích cực thánh này, thì từ nguồn mạch tình yêu là Bí tích Thánh Thể, các con sẽ hân hoan cống hiến cuộc sống của các con cho các đòi hỏi của Tin Mừng. Đồng thời, các con cũng có thể cảm nghiệm được rằng khi sức lực của chúng ta không đủ, thì Chúa Thánh Thần, đấng biến đổi chúng ta, sẽ lấp đầy chúng ta bằng sức mạnh của Ngài và làm cho chúng ta trở nên những nhân chứng tràn đầy nhiệt tình truyền giáo của Đức Kitô Phục sinh.

7. Nhu cầu và tính cấp bách của việc truyền giáo

Nhiều người trẻ nhìn cuộc sống của họ với sự e ngại và đặt ra nhiều câu hỏi cho tương lai. Họ khắc khoải chất vấn: Làm sao chúng ta có thể hòa nhập vào trong một thế giới đang được ghi dấu bởi quá nhiều những bất công tàn bạo và quá nhiều những đau khổ? Chúng ta nên làm thế nào để đối phó với tính ích kỷ và nạn bạo lực đôi khi chiếm ưu thế? Chúng ta làm thế nào để cho cuộc sống của mình đầy ý nghĩa? Làm cách nào để những hoa trái của Thần Khí được nói đến ở trên, “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (số 6) có thể phủ lấp thế giới đầy đau khổ và dễ vỡ, là thế giới của hầu hết mọi người trẻ? Trong hoàn cảnh nào thì Thần Khí mang lại sự sống của cuộc tạo dựng đầu tiên và đặc biệt của công cuộc tạo dựng thứ hai, hay còn gọi là công cuộc cứu độ, có thể trở thành một linh hồn mới của nhân loại? Chúng ta đừng quên rằng hồng ân cao quý của Thiên Chúa càng lớn lao – và hồng ân của Thần Khí của Đức Giêsu là cao quý nhất trong tất cả các ân huệ - thì nhu cầu của thế giới đón nhận ân huệ này càng lớn, cho nên sứ mạng của Giáo Hội trở nên nhân chứng đáng tin cậy cho thế giới càng lớn lao và sinh động hơn. Các con là những người trẻ, qua Ngày quốc tế giới trẻ, các con được mời gọi tham dự vào sứ mạng này. Về khía cạnh này, các bạn trẻ thân mến của cha, cha muốn nhắc các con vài chân lý chính yếu để các con suy niệm. Một lần nữa cha xin lặp lại là chỉ có Đức Kitô mới có thể lấp đầy mọi khát vọng thầm kín nhất trong tâm tư của mọi con người. Chỉ có Đức Kitô mới có thể nhân hoá bản tính con người và đưa nó đến sự “thần hóa”. Nhờ sức mạnh Thần Khí của Người, Người đổ tràn đức ái thần linh của Người trong chúng ta, làm cho chúng ta có khả năng yêu thương người thân cận và sẳn sàng phục vụ họ. Chúa Thánh Thần soi sáng chúng ta, mạc khải cho chúng ta về Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, và chỉ cho chúng ta cách thức để trở nên giống Người hơn, để chúng ta có thể “trở nên hình ảnh và dụng cụ của tình yêu tuôn chảy từ Đức Kitô” (“Deus caritas est”, 33). Những ai để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn sẽ hiểu rằng việc phục vụ Tin Mừng không phải là một điều phụ thuộc chẳng có tính bắt buộc, bởi vì họ hiểu được tính khẩn cấp của việc loan báo Tin Mừng cho người khác. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ lại rằng chúng ta chỉ nên nhân chứng của Đức Kitô khi chúng ta để mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, Đấng là “tác nhân chính yếu của việc loan báo Tin Mừng” (x. Evangelii Nuntiandi, 75) và “ tác nhân chính yếu của việc truyền giáo” (x. Redemptoris Missio, 21).

Các bạn trẻ thân mến của cha, như những người tiền nhiệm đáng kính của cha là Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II đã phát biểu trong vài dịp, ngày nay đối với các tín hữu, việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng càng cần thiết hơn bao giờ hết (x. Redemptoris Missio, 1). Có nhiều người nghĩ rằng việc trình bày kho tàng đức tin quý giá cho những người không cùng chia sẻ niềm tin với chúng ta có nghĩa là gây khó chịu cho họ, nhưng vấn đề không nằm ở chỗ đó, bởi vì việc trình bày Chúa Kitô không có nghĩa là áp đặt Người (x. Evangelii Nuntiandi, 80). Hơn nữa, cách đây hai ngàn năm, Mười Hai Tông đồ đã hiến dâng cuộc sống mình để mọi người được biết và yêu mến Đức Kitô. Suốt nhiều thế kỷ sau đó, Tin Mừng được tiếp tục loan báo nhờ những con người được tác động bởi niềm hăng sai truyền giáo. Ngày nay cũng cần các môn đệ của Chúa Kitô hăng hái cống hiến thời gian và sức lực để phục vụ cho Tin Mừng. Cũng cần những người trẻ biết để cho tình yêu của Thiên Chúa đốt nóng tâm hồn họ và họ sẽ quảng đại đáp lại lời mời gọi khẩn thiết của Người, cũng như nhiều vị chân phước và vị thánh trẻ đã làm trong quá khứ và cũng như trong thời gian gần đây. Đặc biệt, cha cam đoan với các con rằng Thần Khí của Chúa Giêsu hôm nay cũng mời gọi những người trẻ các con hãy trở thành những người mang Tin Mừng của Chúa Giêsu cho những người đồng thời với các con. Khó khăn không thể chối cãi của những người lớn khi muốn tiếp cận một cách đầy cảm thông và thuyết phục thế giới của những người trẻ có thể là dấu chỉ qua đó Chúa Thánh Thần muốn thúc đẩy chính những người trẻ các con phải đảm nhận nhiệm vụ này. Các con biết nhiều tư tưởng, ngôn ngữ, và cũng như những vết thương, những nỗi khắc khoải, và đồng thời các con cũng mong muốn cống hiến những gì tốt đẹp cho những người đương thời. Điều này mở ra một thế giới rộng lớn của những cảm xúc, công việc, sự giáo dục, những nỗi khắc khoải, và đau khổ của người trẻ... Mỗi người trong các con phải can đảm tuyên hứa cùng Chúa Thánh Thần rằng các con sẽ mang đến cho Chúa Giêsu một người trẻ theo cách tốt nhất của các con, các con phải biết cách “trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của các con, nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,15).

Để có thể đạt được mục tiêu này, các bạn trẻ thân mến của cha, các con phải nên thánh và phải là những nhà truyền giáo, bởi vì chúng ta không thể nào tách rời sự thánh thiện ra khỏi việc truyền giáo (x. Redemptoris Missio, 90). Các con đừng bao giờ sợ trở thành những vị thánh truyền giáo giống như thánh Phanxicô Xaviê đã du hành đến miền Viễn Đông để loan báo Tin Mừng cho đến hơi thở cuối cùng, hay giống như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là nhà truyền giáo mặc dù ngài chưa bao giờ rời khỏi tu viện Cát Minh. Cả hai ngài là “Những Thánh Bổn Mạng của Các Xứ Truyền Giáo”. Các con hãy sẵn sàng đánh đổi cuộc đời của các con để soi sáng thế giới bằng chân lý của Chúa Kitô, đáp lại lòng căm thù và việc xem thường mạng sống bằng tình yêu, để loan báo niềm hy vọng vào Chúa Kitô phục sinh ở mọi nơi trên trái đất này.

8. Việc khẩn cầu “một lễ Hiện Xuống mới” trên thế giới

Các bạn trẻ thân mến của cha, cha hy vọng gặp lại tất cả các con tại Sydney vào tháng 7 năm 2008. Đó sẽ là cơ hội mà Thiên Chúa quan phòng để chúng ta cảm nghiệm được sự hoàn hảo của sức mạnh Chúa Thánh Thần. Các con hãy đến đấy thật nhiều để trở nên dấu hiệu của niềm hy vọng và đem đến cho cộng đòan Giáo Hội tại Úc đang chuẩn bị đón tiếp các con một khích lệ lớn lao. Đối với các người trẻ ở quốc gia đón tiếp các con, đó sẽ là cơ hội hiếm có để loan báo vẽ đẹp và niềm vui của Tin Mừng cho xã hội bị tục hóa về nhiều phương diện. Nước Úc cũng giống như tất cả các quốc gia của Châu Đại Dương, cần phải tái khám phá căn tính Kitô giáo của mình. Trong Tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục Châu Đại Dương, đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tại Châu Đại Dương chuẩn bị cho công cuộc loan báo Tin Mừng mới cho các dân tộc ngày nay đang khao khát Đức Kitô... Công cuộc loan báo Tin Mừng mới là ưu tiên hàng đầu cho Giáo Hội tại Châu Đại Dương” (số18).

Cha mời gọi các con hãy dành thời gian để cầu nguyện và đào luyện tâm linh trong suốt giai đọan cuối của hành trình hướng đến Ngày quốc tế giới trẻ lần thứ 23, để tại Sydney các con có thể canh tân lại lời hứa mà các con đã tuyên hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức. Cùng với nhau chúng ta sẽ khẩn cầu Chúa Thánh Thần, tin tưởng nài xin Thiên Chúa ban ân sủng của một lễ Hiện Xuống mới cho Giáo Hội và nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba này.

Nguyện xin Mẹ Maria, đấng đã cùng với các Tông đồ cầu nguyện tại Căn Phòng Trên Gác, đồng hành với các con trong suốt những tháng ngày này và lãnh nhận cho những người Kitô hữu trẻ hồng ân mới mẽ của Chúa Thánh Thần để nung nấu con tim họ. Các con hãy nhớ rằng: Giáo Hội đặt niềm tin nơi các con! Chúng tôi là các Chủ Chăn, cách đặc biệt nguyện chúc các con thêm lòng yêu mến và biết hướng dẫn người khác yêu mến Chúa Giêsu, và chúc các con luôn dõi bước theo Người cách trung tín. Với tất cả tấm lòng, cha chúc lành cho tất cả các con.

Từ Lorenzago, ngày 20 tháng 07 năm 2007
Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI