Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2008

CHUA NHAT 3 PHUC SINH - NAM A

Ngày 6 Tháng 4, Năm 2008

CHUA NHAT III PHUC SINH - NAM A

ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA GIÊSU TRÊN ĐƯỜNG EMMAU

Trên thế giới ai cũng cho nước Hoa Kỳ là thiên đàng trần gian. Thế mà theo thống kê của American Academy of Child and Adolescent Psychiatry thì mỗi năm có hằng ngàn thiếu niên tự vận ở thiên đàng này. Cũng theo thống kê của viện này thì tự vận là nguyên nhân đứng hàng thứ ba trong việc gây tử vong cho các em từ 15 đến 24 tuổi và thứ sáu cho các em từ 5 đến 14 tuổi. Tại sao thế? Bởi vì các em bị căng thẳng bởi những xáo trộn trong gia đình, những áp lực của bạn bè, những đòi hỏi không được thỏa mãn của chính mình, và nhất là thấy đời vô nghĩa.

Hoàn cảnh của giới trẻ trong thời đại chúng ta chẳng khác nào hoàn cảnh của hai môn đệ trên đường Êmmau trước khi được Đức Kitô Phục Sinh đồng hành với họ. Con người ngày nay đang đánh mất Chúa Giêsu vì họ tìm cách đẩy các giá trị Kitô giáo ra khỏi xã hội. Họ đang truyền thụ cho giới trẻ một nền “văn hóa sự chết” trong đó ích kỳ, vật chất, lạc thú và danh vọng được đề cao, còn các giá trị tâm linh và luân lý nếu không bị loại ra ngoài thì cũng bị bị coi là lỗi thời vô ích. Chúng ta không mấy ngạc nhiên khi nhiều người trẻ cảm thấy chán chường, thất vọng, căng thẳng, và thiếu tự tin trong cuộc sống, vì không có Đức Kitô đồng hành với họ trong cuộc đời, thì tất cả mọi sự đều trống rỗng và vô nghĩa.

Hai môn đệ trên đường Êmmau cũng cảm thấy chán chường như thế. Ba năm theo Chúa với hy vọng là Người sẽ giải phóng Israel khỏi ách đô hộ của Rôma. Nếu không có tham vọng được làm khanh tướng thì hai ông cũng hy vọng là được sống tự do trong một quốc gia độc lập. Khi Chúa lãnh án tử hình và bị chết trên thập giá, thì cả bầu trời xụp đổ trước mặt các ông. Mộng đã vỡ thì chỉ còn cách chán chường trở về quê xưa, làm công việc cũ. Đức Kitô Phục Sinh đã đến và đồng hành với các ông trong quãng đường này. Người đã hỏi các ông, đã quan tâm đến tâm sự của các ông và đã lắng tai nghe từng chi tiết ngổn ngang của tâm sự ấy. Sự quan tâm và tình yêu của Người đối với các ông đã làm cho lòng các ông rộn ràng hy vọng. Ngườii đã vạch cho các ông chân lý bằng cách dùng Thánh Kinh mà giải thích về Đức Kitô. Rồi sau cùng Người đã đưa các ông đến bàn tiệc Thánh Thể. Và khi các ông nhận ra Người thì Người biến mất trước mặt các ông. Tuy biến mất, nhưng Người lại ở trong tâm hồn các ông, làm các ông nôn nóng không nghỉ được, mà phải vội vã trở về Giêrusalem bất chấp đêm đen, để mang tin mừng này đến cho mọi người.

Làm Giáo Lý viên, nhiều khi chúng ta cũng chán chường, thất vọng vì dù cố gắng cách mấy đi nữa chúng ta cũng chẳng thấy học sinh của mình tiến bộ chút nào. Đôi khi chúng ta còn chán chường hơn nữa vì không đạt được những “mục đích tiềm ẩn” trong việc phục vụ của mình. Sở dĩ như thế vì chúng ta đã không tin tưởng đủ nơi Chúa, đã không có Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta trên đường phục vụ, đã không đặt Chúa làm cùng đích của việc phục vụ. Hoặc chúng ta chỉ chú tâm đến mình trong việc phục vụ mà quên rằng Chúa đang đồng hành với mình, nên chúng ta đã không nghe thấy những lời dạy dỗ và an ủi của Người và không cảm nhận được tình yêu của Người. Một khi chúng ta thật sự đồng hành với Chúa và lắng nghe tiếng Người thì lòng chúng ta cũng sẽ rạo rực như hai môn đệ trên đường Êmmau. Một khi chúng ta “mời Chúa ở lại với chúng ta vì trời đã xế chiều” thì chúng ta sẽ được đồng bàn với Người, cùng sẽ nhận ra sự hiện diện của Người trong tiệc Thánh Thể, trong các Bí Tích, và cũng sẽ vội vã ra đi để chia sẻ niềm vui này với muôn người.

Là Giáo Lý viên, Chúa muốn chúng ta thay Người đồng hành với những học viên mà Người trao phó cho chúng ta. Chúa muốn chúng ta trở nên “những Kitô khác” để Người được hiện diện khắp nơi, với mọi người, qua chúng ta. Muốn chu toàn sứ vụ này, chúng ta phải giống Đức Kitô trong cách chúng ta đối xử với mọi người, đặc biệt là với những học viên mà Chúa trao cho chúng ta. Chúng ta cũng phải đồng hành với họ, cũng phải truyền tình yêu của Chúa cho họ làm cho lòng họ rộn ràng khi nghe Lời Chúa qua miệng chúng ta. Chúng ta phải biết đặt câu hỏi và biết lắng nghe như Chúa đã làm. Và nhất là chúng ta phải biết dùng Thánh Kinh để giải thích về Mầu Nhiệm của Đức Kitô cho họ. Đức Kitô phải là trọng tâm của chính đời sống chúng ta, để rồi chúng ta có thể nói cho người khác về Đức Kitô với nhiệt tình và đốt cháy lòng họ bằng tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta không phải chỉ dạy Giáo Lý trong lớp học mà phải đồng hành với học viên trên đường đời như Chúa đã đồng hành với các môn đệ. Đồng hành để dẫn họ đến Bàn Tiệc Thánh. Nơi đó họ gặp Đức Kitô Phục Sinh thực sự hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Nơi đó Chúa Giêsu trở thành thần lương nuôi dưỡng linh hồn họ, cùng làm cho họ tràn đầy niềm vui và hy vọng để họ trở về cuộc sống thường nhật đem niềm vui này đi chia sẻ với mọi người.

Còn chúng ta, chúng ta phải biến mất trước mặt họ sau khi họ đã nhận ra Đức Kitô Phục Sinh, như Chúa Giêsu đã biến đi trước mặt họ sau khi bẻ bánh. Đừng mong được nhớ ơn, đừng mong lời ca tụng, và nhất là đừng mong nhìn thấy kết quả của việc mình làm.

Lạy Chúa xin luôn đồng hành với con và những người Chúa trao phó cho con trên đường trần thế này, để chính Chúa dùng con mà an ủi, mà yêu thương và dạy dỗ họ. Để chính Chúa trở nên trọng tâm của đời họ và con. Để chúng con cùng nhau no thỏa nơi Bàn Tiệc Thánh của Chúa và đem Tin Mừng của Chúa vào thế gian đầy thất vọng này. Sau cùng xin cho con biết quên mình, biết nhỏ đi, hay chết đi trong lòng họ để Chúa được lớn lên và sinh hoa trái trong họ. Amen.

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2008

DUC THANH CHA NOI VE THIEN DANG, HOA NGUC VA PHEP HOA GIAO

Đức Thánh Cha nói về


THIÊN ĐÀNG, HỎA NGỤC VÀ PHÉP HÒA GIẢI

Vấn đề Thiên đàng và Hỏa ngục có hay không có đã được đặt thành vấn đề từ lâu, nhất là khi mà nền văn minh khoa học điện tử, vi tính lên đến cao độ như hiện nay.Trong một cuộc họp mặt vào ngày 7-2-2008 giữa Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và các giáo sĩ / linh mục thuộc giáo phận Roma, có nhiều câu hỏi đã được đưa lên hỏi Đức Thánh Cha. Sau đây là một trong những câu hỏi do cha Pietro Riggi, linh mục Salesian thuộc dòng Borgo Ragazzi Don Bosco đưa lên Đức thánh cha. Chúng tôi xin lược dịch câu hỏi và phần giải đáp của Đức Thánh Cha Benedicto XVI. Hy vọng giúp chúng ta hiểu được thế nào là Thiên Đàng và Hỏa Ngục, thế nào là Tội và Bí Tích Hòa Giải.

Vấn đề:

Thưa Đức Thánh Cha, con hiện đang làm việc tại một trung tâm phục vụ trẻ em vị thành niên bị bỏ quên, xin hỏi Đức thánh Cha một vấn đề:

Ngày 25-3-2007 trong một bài giảng thuyết chính thức, Đức Thánh Cha đã rất lấy làm tiếc vì ngày nay người ta ít nói về “những chuyện cuối cùng” của đời người.

Thưa Đức thánh Cha, Đức Thánh Cha có nghĩ rằng khi người ta không còn tin vào những điểm chính yếu của Kinh Tin Kính, thì hệ thống lý luận giúp cho chúng ta hiểu được ơn cứu độ của Chúa Kitô có bị tan vỡ hay không? Nếu không có TỘI LỖI, ở đây chưa nói về hỏa ngục, thì ơn cứu độ của Chúa Kitô cũng bị giảm sút. Vậy thì Đức Thánh cha có nghĩ rằng khi người ta không còn ý niệm về tội lỗi thì hình ảnh thánh và cứu rỗi của một linh mục là người được Chúa ban quyền tha tội và tế lễ nhân danh Đức Kitô cũng bị mất đi hay sao?

Ngày nay, trong khi Phúc Âm thì nói về Hỏa Ngục, nhưng chúng con là những linh mục thì lại né tránh không muốn nói đến Hỏa Ngục. Chúng con cũng không biết phải nói làm sao về Thiên Đàng và nói thế nào về đời sống vĩnh cửu mai sau. Chúng con khó có thể xác định cho Niềm Tin một chiều kích mà không sợ bị sai lạc, một chiều kích chỉ có bề ngang hay nói đúng ra nó đã tách rời ra khỏi chiều thẳng đứng. Phải chăng đây là bước khởi đầu làm mất đi cấu trúc nền tảng của Giáo hội nói trong giáo lý dạy cho trẻ em và cho cả người lớn nữa.

Con cũng muốn nêu lên một điểm là chính Đức Trinh Nữ Maria cũng đã không sợ khi nói với mấy trẻ ở Fatima lúc đó cũng ở tuổi đang phải học giáo lý từ 7 đến 12, mà chính chúng con ngày nay rất nhiều lần đã bỏ qua không nói tới.

Thưa Đức Thánh Cha, xin Đức Thánh Cha nói rõ thêm cho chúng con về vấn đề này.

Giải đáp của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI:

Cha đã có lý khi nói về những vấn đề căn bản của Đức Tin mà ngày nay, tiếc thay, lại thấy ít đề cập đến trong những bài giảng của chúng ta. Trong thông điệp Spe Salvi, tôi đã nói về ngày phán xét cuối cùng –phán xét chung- trong bối cảnh một luyện tội, Hỏa ngục và cả Thiên Đàng. Tôi nghĩ rằng chúng ta đang bị lấn cấn vì những phản bác của những người Marxists, họ cho rằng người Kitô hữu chỉ nói về đời sau mà bỏ quên thế giới thực tại đời nay.

Vậy tôi muốn nói cho các cha biết rằng chúng ta thực sự đang hành động để giúp đời, chúng ta không phải là những người chỉ nói về những truyện xa vời chẳng giúp ích được gì cho đời sống hiện tại. Tuy nhiên dù người Kitô hữu làm việc để giúp đời là chính đáng, bởi vì chúng ta được mời gọi để thực sự biến cải thế giới đời này thành một thế giới của Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, chúng ta cũng không được quên cái chiều kích kia. Nếu chúng ta không đếm xỉa đến chiều kích đó thì chúng ta chưa thực sự giúp đời một cách trọn vẹn.

Đây là một trong những mục đích chính của tôi khi viết thông điệp Spe Salvi. Khi một người không biết có sự phán xét của Thiên Chúa thì họ cũng không biết là có hỏa ngục, không biết là đời sống của họ đã bị hư hỏng thực sự đến tận gốc rễ, họ cũng không biết là có luyện tội và luyện tội cần thiết phải có. Lúc đó con người chẳng làm gì để giúp cho đời, bởi vì họ đã đánh mất những tiêu chuẩn của cuộc sống. Họ không còn biết chính bản thân họ, không nhận biết Thiên Chúa và họ đã phá hủy đời, phá hủy thế giới. Họ đã hứa hẹn những ý thức hệ lý tưởng tuyệt vời mà họ coi như sẽ cầm chắc trong tay, không còn có thể quên được đời và thế giới. Họ sẽ thiết tạo một thế giới mới, huynh đệ, chính xác và công bằng. Nhưng ngược lại họ đã phá hủy thế giới, như chúng ta đã thấy ở chế độ Nazi Đức Quốc Xã và chế độ Cộng Sản. Họ cũng thề hứa sẽ thiết lập một thế giới đúng với nghĩa của nó, nhưng trái lại họ đã phá hủy thế giới.

Trong những cuộc thăm viếng “ad limina” của các giám mục những quốc gia cựu cộng sản, tôi luôn luôn coi những quốc gia này không phải chỉ như là một hành tinh với những tương quan con người với nhau đã bị phá hoại, nhưng trên hết và còn tệ hơn nữa là những linh hồn, vấn đề tâm linh cũng bị hủy giệt. Tìm kiếm lại lương tâm thực của con người nhờ sự soi sáng của Thiên Chúa là bổn phận hàng đầu để tái tạo lại thế giới. Đây là một kinh nghiệm chung nơi những quốc gia này. Tái tạo lại thế giới, tôn trọng tiếng kêu than thống khổ của những con người sống trên hành tinh này chỉ có thể thành công bằng cách hồi sinh Thiên Chúa trong các tâm hồn với con mắt mở rộng đón nhận Thiên Chúa.

Vậy thì, cha nói có lý. Chúng ta phải nói lên tất cả trách nhiệm của ta đối với đời, với thế giới, với con người hiện còn đang sống. Chúng ta cần phải nói một cách rõ ràng về TỘI là thứ có khả năng phá hủy chính chúng ta và cả những phương diện khác của thế giới. Trong thông điệp Spe Salvi, tôi đã cố gắng chứng minh cho mọi người thấy rằng phán xét sau cùng của Chúa bảo đảm là có công bằng thực sự. Tất cả chúng ta ai cũng mong muốn một thế giới công bằng, nhưng chúng ta không thể sửa đổi được tất cả những gì ở quá khứ đã bị phá hủy, không thể đền bù cho tất cả những người bị hành hạ và giết chết một cách bất công. Chỉ có một mình Thiên Chúa là đấng có thể tạo nên công lý và công bằng cho tất cả mọi người, kẻ sống cũng như người chết. Adarno, một tay Marxist có hạng đã từng tuyên bố: “Chỉ có xác chết sống lại –mà ông cho đó chỉ là ảo tưởng- mới có thể tạo nên được công bằng / công lý”. Nhưng chúng ta tin rằng “Xác loài người ngày sau sống lại” mà không phải tất cả mọi người lúc đó đều ngang hàng đồng đều như nhau.

Ngày nay chúng ta thường suy nghĩ và thắc mắc “Tội là cái gì?”. Thiên Chúa thì vĩ đại và toàn năng, Ngài biết chúng ta, vậy tội lỗi sẽ không đáng kể và cuối cùng Thiên Chúa tốt lành sẽ khoan dung cho tất cả mọi người. Đó là một hy vọng tuyệt vời. Nhưng có tội thì cũng phải có công bằng. Những ai hủy giệt con người và thế giới thì không thể vào ngồi ngay lập tức cùng bàn với Thiên Chúa và những nạn nhân của họ được. Nên nhớ rằng Thiên Chúa tạo nên công bằng thì đối với tôi điều đó rất quan trọng khi tôi nói về lửa luyện tội, một sự thực hiển nhiên đối với tôi, hiển nhiên và cần thiết đến độ không thể bỏ qua không nói đến được.

Tôi cũng đã nói: Có lẽ không có nhiều người bị hủy giệt bằng cách này: Những người không thể nào cứu chữa được nữa, những người không còn một lý do nào để cho tình yêu Chúa đoái hoài đến, những người không có một khả năng tối thiểu để chấp nhận tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là hỏa ngục. Về một phương diện khác, chắc chắn cũng có một số ít người –không nhiều đâu- những người trong sạch đến độ có thể hiệp thông với Thiên Chúa ngay lập tức. Nhiều người trong chúng ta hy vọng rằng sẽ có một cái gì đó có thể rửa sạch tội lỗi, làm lành vết thương tâm hồn chúng ta, sẽ có một ăn năn hối hận và ước nguyện phút chót muốn tôn thờ Thiên Chúa và phụng sự con người, muốn sống một cuộc sống theo thánh ý Chúa. Nhưng sẽ có rất nhiều, rất nhiều vết thương tội lỗi thối tha, cho nên chúng ta cần phải được chuẩn bị và thanh tẩy. Đây là hy vọng của chúng ta: Mặc dù tâm hồn chúng ta đầy dẫy tội lỗi gớm ghiếc, nhưng trong giờ phút chót, Chúa cũng cho chúng ta khả thi cuối cùng có thể thanh tẩy chúng ta nhờ lòng khoan dung đại lượng của Chúa trên thập giá. Với phương cách đó, Chúa giúp chúng ta có thể sống hạnh phúc vĩnh cửu đời đời với Chúa.

Vậy thiên đàng hẳn phải là một HY VỌNG. Đó là lẽ công bằng sau cùng phải được thực hiện. Thiên đàng cũng chỉ cho chúng ta những tiêu chuẩn để sống. Vì thế sống ở đời này, một cách nào đó, cũng có thể là thiên đàng vậy, một dấu hiệu tiên khởi của Thiên Đàng. Khi con người biết sống theo những tiêu chuẩn đó thì đã thấy chút ít dấu hiệu của thiên đàng xuất hiện ở trên đời này rồi. Đó là thiên đàng hữu hình. Đối với tôi, chúng ta cần phải nói nhiều hơn nữa để chứng minh niềm Tin có thật và sự cần thiết phải đi theo con đường mà giới răn Chúa đã chỉ dạy. Đây chính là những tấm bảng chỉ đường giúp chúng ta sống lương thiện và phải chọn lựa cuộc sống cho thích hợp. Vì lý do đó, chúng ta buộc phải nói về tội và phép bí tích hòa giải tha thứ. Một người thành thực là người tự nhận biết mình có tội, đã đi sai đường, nên phải quay trở lại và được thanh tẩy. Đây là một thực tế sáng ngời mà Thiên Chúa đã cho chúng ta là Khả năng canh tân để trở nên con người mới. Từ đó Chúa lại bắt đầu đồng hành với chúng ta, cùng một phương thức đó chúng ta lại bắt đầu đồng hành với tha nhân trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Hính thức canh tân, sửa đổi con người chúng ta sau nhiều lỗi lầm và tội lỗi chính là một hứa hẹn lớn lao, một tặng vật vô giá mà Giáo Hội đã ban cho chúng ta mà phương cách tâm lý trị liệu chẳng hạn, không thể nào cung ứng được. Phương pháp tâm lý trị liệu ngày nay rất phổ quát, nó cũng rất cần thiết trước biết bao nhiêu là đổ nát hủy hoại trầm trọng về tâm thần. Nhưng khả thi tâm lý trị liệu thì lại giới hạn, nó chỉ có thể làm cho những tâm hồn bị lệch lạc trở lại cân bằng một phần nào thôi. Nó không thể canh tân thực sự được con người, không thể vượt thắng mọi bệnh hoạn trầm trọng của linh hồn. Vì vậy nó vẫn chỉ là tạm bợ, không bao giờ có thể giải quyết dứt điểm được vấn đề.

Bí tích hòa giải là cơ hội giúp chúng ta canh tân một cách trọn vẹn nhờ quyền năng của Thiên Chúa. “Ta tha tội cho con – Ego te absolve” là câu nói thực sự khả thi bởi lẽ chính Chúa Kitô đã gánh tội, chuộc lấy tất cả lỗi lầm của chúng ta đổ trên Ngài. Ngày nay bí tích này thực sự rất cần thiết. Chúng ta có thể được chữa lành trở lại. Như tất cả chúng ta đều biết: Linh hồn chúng ta đã bị tổn thương và trở thành bệnh hoạn nên không những cần phải được khuyên giải mà còn cần được canh tân thực sự, một sự canh tân chỉ có thể làm được do quyền năng của Thiên Chúa, quyền năng của Tình yêu thập tự. Đối với tôi, đây có vẻ như là một kết hợp vĩ đại giữa các nhiệm tích đã thực sự được ghi khắc trong đời chúng ta. Chúng ta cần phải chiêm nghiệm về những mầu nhiệm đó để rồi theo cùng một phương thức ấy, chúng ta lại truyền đạt nó cho những người anh em giáo dân của chúng ta.

Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II

Sứ Điệp của ĐTC Gioan Phaolô II

cho Ngày Quốc Tế Cầu Nguyện cho Ơn Gọi

(ngày 17 tháng 4 năm 2005)

Chủ đề: "Được mời gọi ra khơi".

1. Chủ đề của Ngày Quốc tế cầu nguyện cho Ơn Gọi năm 2005 là gì? Mục tiêu để làm gì?

T. Chủ đề Ngày Quốc tế Cầu Nguyện cho Ơn Gọi năm 2005 là: "Được mời gọi ra khơi!". Đây là giây phút ưu tuyển để giúp ta suy nghĩ về Ơn gọi theo Chúa Giêsu, đặc biệt trong đời linh mục và đời tận hiến.

2. ĐTC đã dựa vào biến cố Phúc âm nào để làm khung gợi ý ?

T. ĐTC dựa vào biến cố Phúc âm Luca 5,4: Chúa Giêsu nói với Phêrô: "Hãy ra khơi!" Phêrô và các bạn đồng nghiệp tin tưởng vào những Lời của Chúa Kitô, đã ra khơi thả lưới và đã bắt một mẻ cá hết sức kỳ diệu.

3. Mệnh lệnh “Hãy Ra Khơi” có tính cách thời sự như thế nào?

T. Mệnh lệnh "Hãy ra khơi!" của Chúa Giêsu mang tính thời sự đặc biệt trong thời đại chúng ta, vì hiện đang có một tâm thức khá phổ biến, cổ võ cho thái độ muốn rút lui trước những khó khăn.

4. Điều kiện đầu tiên để “Ra khơi” là gì?

T. Điều kiện đầu tiên để "ra khơi" là:

- vun trồng một tinh thần cầu nguyện sâu xa,

- được nuôi dưỡng hằng ngày bởi việc lắng nghe Lời Chúa.

5. Đời sống kitô hữu đích thực của được đo lường bởi việc gì?

T. Đời sống kitô hữu đích thực được đo lường bởi đặc tính sâu xa của đời cầu nguyện.

6. Cầu nguyện là một nghệ thuật được khiêm tốn học từ đâu?

T. Cầu nguyện là một nghệ thuật được khiêm tốn học lấy "từ môi miệng của Thầy Chí Thánh", dường như thể chúng ta khẩn cầu như những môn đệ đầu tiên: "Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện!" (Lc 11,1).

7. Đối thoại với Chúa Kitô trong cầu nguyện, ta được gì?

T. Trong cầu nguyện, ta được đối thoại với Chúa Kitô, Đấng sẽ biến chúng ta thành những kẻ thân tín của Người: "Hãy ở lại trong Thầy và Thầy trong chúng con!" (Gn 15,4)

8. Đâu là mối giây liên kết với Chúa Kitô trong lời cầu nguyện?

T. Mối giây liên kết với Chúa Kitô trong lời cầu nguyện là làm cho chúng ta chú ý đến sự hiện diện của Chúa Kitô, cả trong những giây phút xem ra như bị thất bại, khi sự cực nhọc xem ra như vô ích, như đã xảy ra cho các tông đồ; các ông đã mệt nhọc suốt đêm, rồi thưa cùng Chúa rằng: "Lạy Thầy, chúng con không bắt được con cá nào cả! (Lc 5,5).

9. Những lúc xem ra bị thất bại, cực nhọc, vô ích, ta cần phải làm gì?

T. Trong những lúc ấy, ta cần phải mở rộng tâm hồn đón nhận dòng ân sũng và để cho Lời của Chúa Kitô "Hãy ra khơi!" được tác động với hết sức mạnh của nó.

10. Lợi ích của việc mở rộng tâm hồn cho Chúa Kitô là gì?

T. Ai mở rộng tâm hồn cho Chúa Kitô, thì người đó:

- hiểu được mầu nhiệm của chính cuộc đời mình,

- hiểu được mầu nhiệm của ơn gọi mình,

- và trổ sinh những hoa trái tuyệt vời nhờ ân sũng Chúa.

11. Hoa trái đầu tiên trong số những hoa trái tuyệt vời đó là gì?

T. Hoa trái đầu tiên đó là được lớn lên trong sự thánh thiện trên con đường thiêng liêng, được bắt đầu với hồng ân Bí Tích Rửa Tội, và được tiếp tục cho đến lúc đạt đức ái trọn hảo.

12. Sống Phúc âm cách trọn vẹn, người kitô hữu có khả năng nào?

T. Sống Phúc âm cách trọn vẹn, người kitô hữu có khả năng yêu thương theo cách thức của Chúa Kitô, Đấng đã nói: "Chúng con hãy nên trọn lành, như Cha chúng con trên trời" (Mt 5, 48).

13. Sống Phúc âm trọn vẹn, người kitô đó dấn thân như thế nào?

T. Sống Phúc âm trọn vẹn, người kitô đó dấn thân :

- kiên trì sống hiệp nhất với anh chị em trong sự hiệp thông của Giáo hội,

- sẵn sàng phục vụ cho công cuộc tái rao giảng phúc âm,

- để công bố và làm chứng cho sự thật đáng khâm phục về tình thương cứu rỗi của Thiên Chúa.

14. Nhắc lại lời mời gọi “Hãy ra khơi”, ĐTC thôi thúc giới trẻ ngày nay cách đặc biệt về điều gì?

T. ĐTC thôi thúc giới trẻ ngày nay: “Đã đến lúc chúng con phải có những quyết định quan trọng cho tương lai của mình”.

15. ĐTC hiểu gì về tâm hồn người trẻ? Họ cần gì?

T. ĐTC hiểu rõ rằng trong tâm hồn của những người trẻ:

- có sức hấp dẫn mạnh mẽ về những giá trị tinh thần,

- và sự thành thực muốn sống thánh thiện.

- Họ cần đến Chúa Kitô, nhưng họ cũng biết rằng Chúa Kitô đã muốn cần đến họ.

16. ĐTC khuyên nhủ giới trẻ quy hướng về Chúa Kitô thế nào?

T. ĐTC khuyên nhủ: “Hỡi những người trẻ nam nữ, chúng con :

-Hãy tin tưởng vào Chúa Kitô;

-Hãy đặt mình lắng nghe những giáo huấn của Chúa,

-Hãy nhìn ngắm dung nhan Chúa,

-Hãy kiên trì trong việc lắng nghe Lời Chúa.

-Hãy để cho Chúa làm kẻ hướng dẫn cuộc tìm kiếm và khát vọng của chúng con, hướng dẫn mọi lý tưởng và ao ước của con tim chúng con.”

17. ĐTC nhắc nhủ các bậc phụ huynh, LM, TS, GLV cần giúp giới trẻ điều gì?

T. ĐTC nhắc nhủ họ rằng:

- hãy nhớ trách vụ đặc biệt là hướng dẫn giới trẻ sống thánh thiện.

- hãy là những mẫu gương cho giới trẻ sống trung thành và quảng đại.

- hãy khuyến khích các bạn trẻ đừng do dự "ra khơi", bằng cách mau mắn đáp trả lời mời gọi của Chúa.

- hãy giúp những người trẻ biết phân biệt đâu là con đường của họ,

- biết trở thành những người bạn đích thật của Chúa Kitô và là những đồ đệ thật của ngài.

18. Khi người lớn làm gương sáng thì ảnh hưởng người trẻ thế nào?

T. Khi những người lớn tin Chúa, biết làm cho dung mạo Chúa Kitô được nhìn thấy bằng những lời nói và gương sáng của họ, thì những người trẻ sẽ sẵn sàng hơn để đón nhận sứ điệp có tính cách đòi hỏi của Chúa, một sứ điệp được ghi dấu bởi mầu nhiệm Thập Giá.

19. ĐTC nhắc nhở thời đại ngày nay đang cần gì?

T. ĐTC nhắc rằng: “trong thời đại hôm nay, vẫn còn cần có những linh mục thánh thiện, cần những tâm hồn hoàn toàn tận hiến cho việc phục vụ Thiên Chúa!”

20. ĐTC muốn điều cần thiết và cấp bách về Ơn gọi là làm gì?

T. ĐTC muốn: "Điều cần thiết và khẩn cấp là thiết lập một chương trình mục vụ rộng lớn và có tổ chức chặt chẽ về Ơn gọi, cho đến tận các giáo xứ, các trung tâm giáo dục, các gia đình, vừa khơi dậy một suy tư nghiêm chỉnh hơn về những giá trị thiết yếu của đời sống.

21. Những giá trị thiết yếu của đời sống được thể hiện thế nào?

T. Những giá trị thiết thiết yếu đời sống được thể hiện qua sự đáp trả lời Thiên Chúa mời gọi, nhất là khi lời mời gọi này đòi hỏi một sự hiến dâng hoàn toàn chính bản thân và năng lực của mình cho công cuộc Nước Chúa.

22. ĐTC nhắc lại cho giới trẻ biết lời yêu cầu nào của Chúa Giêsu và lời khuyến khích nào của Đức Mẹ?

T. Chúa Giêsu yêu cầu “Hãy ra khơi”, còn Đức Mẹ Maria nhắc bảo: “Hãy làm điều Ngài truyền”, như khuyến khích người trẻ đừng do dự theo Chúa.

23. Trong ngày ơn gọi, ĐTC muốn ta dâng lời nguyện xin điều gì?

T. ĐTC muốn ta hiệp lời cầu nguyện sốt mến, dâng lên Thiên Chúa Cha trên trời, để xin cho có những thợ "đến làm mùa" (Mt 9,38). Xin Chúa ban những linh mục sốt sắng và thánh thiện cho mọi cộng đoàn Dân Chúa.

Ý nghĩa lời nguyện kết:

24. Chúa mời gọi tất cả những kẻ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội điều gì?

T. Chúa mời gọi tất cả những kẻ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội “Hãy ra khơi”, vừa tiến bước trên con đường thánh thiện.

25. Xin khơi dậy ước muốn nào nơi tâm hồn người trẻ?

T. Xin khơi dậy nơi tâm hồn người trẻ ước muốn trở nên những chứng nhân cho sức mạnh của tình yêu Chúa, giữa lòng thế giới ngày nay.

26. Xin ban tràn đầy Thánh Thần để người trẻ có khả năng nào?

T. Xin đổ tràn đầy xuống trên các người trẻ Thánh Thần Chúa, Thánh Thần của sức mạnh và sự khôn ngoan, ngõ hầu họ có khả năng khám phá sự thật trọn vẹn về chính mình và về ơn gọi riêng của mình.

27. Xin ban cho Giáo Hội có những người trẻ nào?

T. Xin ban cho Giáo hội Chúa có được những con người trẻ sẵn sàng ra khơi, để thể hiện giữa anh chị em sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện canh tân và cứu rỗi.

27. Xin Mẹ Maria nâng đỡ các gia đình, các cộng đoàn, để trợ giúp giới trẻ điều gì?

T. Với lời khẩn cầu hiền mẫu của Mẹ, xin hãy nâng đỡ các gia đình và các cộng đoàn Giáo hội, ngõ hầu các gia đình, các cộng đoàn nầy biết trợ giúp cho những người trẻ và các thiếu niên, biết đáp lại cách quảng đại lời mời gọi của Chúa.

(Lm François VIET)

Lời nguyện kết

Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, nơi ngài có trọn vẹn thần tính ẩn ngự.

Chúa mời gọi tất cả những kẻ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội “Hãy ra khơi”, vừa tiến bước trên con đường thánh thiện.

Xin hãy khơi dậy nơi tâm hồn người trẻ ước muốn trở nên những chứng nhân cho sức mạnh của tình yêu Chúa, giữa lòng thế giới ngày nay.

Xin hãy đổ tràn đầy xuống trên các người trẻ Thánh Thần Chúa, Thánh Thần của sức mạnh và sự khôn ngoan, ngõ hầu họ có khả năng khám phá sự thật trọn vẹn về chính mình và về ơn gọi riêng của mình.

Lạy Đấng cứu chuộc chúng con, Chúa được Thiên Chúa Cha sai xuống trần gian để mạc khải tình thương nhân từ của Thiên Chúa, xin hãy ban cho Giáo hội Chúa có được những con người trẻ sẵn sàng ra khơi, để thể hiện giữa anh chị em sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện canh tân và cứu rỗi.

Lạy Đức Nữ Đồng Trinh rất thánh, Mẹ của Đấng cứu chuộc, vị hướng dẫn an toàn trên con đường tiến về Thiên Chúa và anh chị em; Mẹ đã lưu giữ những lời Chúa phán trong cõi thâm sâu của tâm hồn Mẹ; với lời khẩn cầu hiền mẫu của Mẹ, xin hãy nâng đỡ các gia đình và các cộng đoàn Giáo hội, ngõ hầu các gia đình, các cộng đoàn nầy biết trợ giúp cho những người trẻ và các thiếu niên, biết đáp lại cách quảng đại lời mời gọi của Chúa. Amen.

+Gioan Phaolô II, Giáo hoàng (Roma 11/08/2004)

(Dựa theo Bản dịch của Đặng Thế Dũng)

SU DIEP CUA DUC THANH CHA XVI GUI GIOI TRE 2008

Sứ điệp của Đức thánh cha Bênêđictô thứ 16
nhân ngày Quốc tế Giới trẻ lần thứ 23, năm 2008

“CÁC CON PHẢI NÊN THÁNH VÀ PHẢI LÀ NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO”

“Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên các con; và các con sẽ trở thành chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8).

Các bạn trẻ thân mến,

1.Ngày quốc tế giới trẻ lần thứ 23

Cha rất vui mừng nhớ đến những kỷ niệm mà chúng ta đã cùng trãi qua tại Cologne , vào tháng 8 năm 2005. Vào cuối kỳ đại hội của niềm tin và sự hăng say khó quên, một biến cố vẫn còn khắc sâu trong tâm trí cha, cha đã hẹn với các con vào lần gặp gỡ tới, được tổ chức tại Sydney vào năm 2008. Đây sẽ là kỳ đại hội quốc tế giới trẻ lần thứ 23, với chủ đề: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần, khi Ngài ngự xuống trên các con; và các con sẽ trở thành chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8). Chủ đề chính yếu của việc chuẩn bị tâm hồn cho kỳ gặp gỡ của chúng ta tại Sydney là Chúa Thánh Thần và việc truyền giáo. Vào năm 2006, chúng ta đã tập trung sự chú ý vào Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý. Và bây giờ trong năm 2007, chúng ta sẽ tìm hiểu một cách sâu xa hơn về Thần Tình Yêu. Chúng ta sẽ tiếp tục cuộc hành trình tiến đến ngày quốc tế giới trẻ 2008 bằng việc suy tư về Thần Sức Mạnh và Chứng Nhân nhằm giúp chúng ta can đảm sống và mạnh dạn rao giảng Tin Mừng. Vì thế, thật quan trọng khi mỗi người trẻ chúng con, trong các cộng đoàn của mình, cùng với những người có trách nhiệm giáo dục chúng con, nên suy tư về Tác Nhân Chính Yếu của lịch sử cứu độ là Chúa Thánh Thần hay Thần Khí của Chúa Giêsu. Bằng cách này, các con có thể gặt hái được những thành quả tốt đẹp: nhận ra được căn tính đích thật của Thần Khí, trước hết bằng việc lắng nghe Lời Chúa trong Mạc Khải của Thánh Kinh; nhận thức cách rõ ràng sự hiện diện liên lĩ và sống động của Ngài trong đời sống Giáo Hội, đặc biệt khi các con tái khám phá Chúa Thánh Thần chính là “linh hồn”, hơi thở sống động của chính đời sống Kitô hữu, qua các bí tích khai tâm Kitô giáo như: Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể; nhờ đó hiểu biết về Chúa Giêsu sẽ ngày càng triển nở cách sâu sắc và hân hoan hơn, và đồng thời đem Tin Mừng ra thực hành trong bình minh của thiên niên kỷ thứ ba này. Trong sứ điệp này, cha vui mừng gởi đến các con những nét đại cương để suy niệm mà các con có thể múc lấy trong suốt năm chuẩn bị này. Bằng cách này, các con có thể kiểm chứng lại phẩm chất đức tin của các con vào Chúa Thánh Thần, hãy tái khám phá điều đó nếu nó đã mất, hãy gia tăng sức mạnh nếu nó đã yếu kém, hãy nếm hưởng nó trong tình thân hữu với Thiên Chúa Cha và với Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, nhờ vào họat động không thể thiếu được của Chúa Thánh Thần. Các con đừng bao giờ quên rằng Giáo Hội, trong thực tế là chính nhân loại, là tất cả mọi người xung quanh các con lúc này và tất cả những ai đang chờ đợi các con ở tương lai, đòi hỏi rất nhiều nơi những người trẻ các con, bởi vì các con có nơi mình món quà cao quý nhất của Chúa Cha, là Thần Khí của Chúa Giêsu.

2. Lời hứa của Chúa Thánh Thần trong Kinh Thánh

Việc lắng nghe một cách chăm chú Lời Chúa liên quan mầu nhiệm và họat động của Chúa Thánh Thần mở ra cho chúng ta những hiểu biết lớn lao và sâu sắc mà cha sẽ tóm lượt trong những điểm sau đây.

Ít lâu trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Phần Thầy, Thầy sẽ ban cho anh em điều Cha Thầy đã hứa” (Lc 24,49). Điều này đã diễn ra trong ngày Lễ Hiện xuống, khi họ tụ họp với nhau cầu nguyện trong Căn Phòng Trên Gác cùng với Đức Trinh Nữ Maria. Việc đổ tràn Thánh Thần trên Giáo Hội sơ khai chính là việc ứng nghiệm những gì đã được Thiên Chúa hứa thuở ban đầu, đã được loan báo và được chuẩn bị trong Cựu Ước.

Thật vậy, ngay từ những trang đầu, Thánh Kinh trình bày thần khí của Thiên Chúa như làn gió “bay lượn trên mặt nước” (x. St 1,2). Thánh Kinh nói rằng Thiên Chúa đã thổi hơi thở sự sống vào mũi của con người (x. St 2,7), và qua đó sự sống tràn ngập nơi con người. Sau tội nguyên tổ, thần khí của Thiên Chúa mang lại sự sống thỉnh thoảng cũng được nhận ra trong lịch sử của nhân loại, bằng cách thôi thúc các tiên tri kêu gọi Dân Tuyển Chọn trở về với Thiên Chúa và trung thành tuân theo các huấn lệnh của Ngài. Trong thị kiến nổi tiếng của tiên tri Ezekiel, Thiên Chúa cùng với thần khí của Ngài phục hồi lại sự sống của dân Do Thái, được biểu trưng bằng “những bộ xương khô” (x. Ed 37, 1-14). Tiên tri Joel đã tiên báo về “việc đổ tràn thần khí” trên muôn dân nước, không loại trừ một ai. Tác giả sách thánh đã viết rằng: “Và sau đó sẽ đến lúc Ta sẽ đổ tràn đầy thần khí của Ta trên tất cả người phàm… Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ tràn thần khí Ta trên tôi nam và tớ nữ” (Jo 3,1-2).
“Trong thời viên mãn” (Gal 4,4), thiên thần Chúa đã loan báo cho Trinh Nữ thành Nazareth rằng Chúa Thánh Thần, “quyền năng của Đấng Tối Cao”, sẽ ngự đến và bao phủ lấy bà. Con trẻ được sinh ra sẽ là đấng thánh và được gọi là Con Thiên Chúa (x. Lc 1,35). Theo những lời của tiên tri Isaia, Đấng Messia sẽ là người được thần khí của Thiên Chúa ngự đến (x. 11,1-2; 42,1). Đây cũng là lời tiên tri mà Chúa Giêsu áp dụng lại vào lúc khởi đầu của sứ vụ công khai của Người tại hội đường Nazareth . Trước sự kinh ngạc của những người hiện diện, Người nói: “Thần khí của Thiên Chúa ngự xuống trên tôi, bởi vì Ngài đã xức dầu cho Tôi và sai Tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Ngài đã sai Tôi đi công bố ơn giải thoát cho cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa.” (Lc 4, 18-19; x. Is 61, 1-2). Ngỏ lời với với những người hiện diện, Người áp dụng những lời tiên tri này vào chính bản thân mình khi nói rằng: “Hôm nay ứng nghiệm đọan Kinh Thánh mà tai quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Hơn nữa, trước khi chịu chết trên Thập giá, Người cũng đã nhiều lần nói với các môn đệ về việc xuất hiện của Chúa Thánh Thần, “Đấng An Ủi” mà sứ mạng của Ngài là làm chứng cho Người và trợ giúp các tín hữu bằng việc dạy dỗ và dẫn đưa họ đến sự toàn vẹn của Chân Lý (x. Ga 14,16-17. 25-26; 15,26; 16,13).

3.Lễ Hiện xuống, điểm xuất phát cho sứ mạng của Giáo Hội

Vào chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu hiện đến với các môn đệ, “Người thổi hơi trên các ông và bảo các ông: “Hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22). Với sức mạnh lơn lao hơn, Chúa Thánh Thần đã xuống trên các Tông đồ trong ngày lễ Hiện xuống. Chúng ta đọc được trong Tông đồ Công vụ: “Và bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một” (Cv 2,2-3).

Chúa Thánh Thần đã đổi mới các Tông đồ từ bên trong, ban tràn đầy sức mạnh cho họ để họ can đảm ra đi và mạnh dạn công bố rằng: “Đức Kitô đã chết và đã sống lại!”. Thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi, họ bắt đầu công khai loan báo với niềm xác tín (x. Cv 2,29; 4,13; 4,29.31). Những người đánh cá nhát đảm này đã trở thành những sứ giả gan dạ của Tin Mừng. Ngay cả những kẻ thù của họ cũng không thể nào hiểu nỗi làm thế nào mà những người “không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân” (x. Cv 4,13) lại có thể trở nên can đảm và chịu đựng được những khó khăn, đau khổ và bách hại với niềm hân hoan. Không có gì có thể ngăn cản họ. Đối với những ai cố gắng bắt họ im tiếng, họ đáp lại rằng: “chúng tôi không thể không công bố những gì chúng tôi đã chứng kiến và được nghe” (Cv 4,20). Đây là cách thức mà Giáo Hội đã được khai sinh, và từ ngày lễ Hiện Xuống, Giáo Hội không ngừng loan báo Tin Mừng “đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

4. Chúa Thánh Thần, linh hồn của Giáo Hội và nguyên lý của sự hiệp thông

Nếu chúng ta muốn hiểu sứ mạng của Giáo Hội, chúng ta phải quay trở về Căn Phòng Trên Gác, nơi mà các Tông đồ đã quy tụ với nhau (x. Lc 24,49), và cùng cầu nguyện với Đức Maria, là “Người Mẹ”, mong đợi Chúa Thánh Thần, là đấng được hứa ban xuống cho các ngài. Hình ảnh của Giáo Hội thời sơ khai nên là nguồn cảm hứng thường hằng cho mỗi cộng đoàn Kitô hữu. Thành quả của các Tông đồ và của các nhà truyền giáo trên căn bản không dựa vào những chương trình hay các phương pháp mục vụ được vận dụng cách khéo léo và hiệu quả, nhưng chính là kết quả của việc cầu nguyện thường xuyên của cộng đoàn (x. Evangelii Nuntiandi, 75). Hơn nữa, để việc truyền giáo đạt hiệu quả, các cộng đoàn phải được hợp nhất, điều đó có nghĩa là, họ phải “một lòng và một ý” (Cv 4,32), và họ phải sẵn sàng làm chứng cho tình yêu và niềm hân hoan mà Chúa Thánh Thần đã nhuần thấm trong tâm hồn của các tín hữu (Cv 2,42). Vị tôi tớ của Thiên Chúa là Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết rằng, quan trọng hơn cả hoạt động, sứ mạng của Giáo Hội trước tiên là làm chứng và sống theo cách thức có thể tỏ lộ cho người khác thấy (x. Redemptoris Missio, 26). Tertullianô cho chúng ta biết về những gì đã xãy ra vào những ngày đầu của Kitô giáo, những người ngoại giáo đã trở lại đạo khi họ nhìn thấy sự ngự trị của tình yêu giữa các Kitô hữu: “Hãy nhìn xem họ yêu thương nhau dường nào” (Hộ giáo, 39 § 7).

Để kết luận cho đoạn phân tích ngắn gọn về lời Chúa trong Thánh Kinh, cha mời gọi các con hãy nhận ra Chúa Thánh Thần chính là hồng ân cao quý nhất của Thiên Chúa dành cho con người và từ đó nhận ra bằng chứng cao cả của tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, một tình yêu được diễn tả cách đặc biệt bằng “lời xin vâng với sự sống” mà Thiên Chúa muốn dành cho mọi loài thụ tạo. Tiếng đáp “xin vâng với sự sống” này đạt đến sự viên mãn nơi Chúa Giêsu thành Nazareth và trong chiến thắng của Người trên sự dữ bằng việc cứu chuộc. Về khía cạnh này, chúng ta đừng quên rằng Tin Mừng của Chúa Giêsu, cách chính xác được linh hứng bởi Chúa Thánh Thần, không thể bị giảm thiểu như cách trình bày sự kiện, bởi vì Tin Mừng đựơc viết ra với mục đích là “tin vui cho người nghèo, sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, ánh sáng cho kẻ mù loà…”. Những gì nhận thấy trong ngày lễ Ngũ Tuần có sức sống mãnh liệt làm sao, vì nó trở thành ân sủng và trách nhiệm của Giáo Hội đối với thế giới, là sứ mạng ưu tiên của Giáo Hội!

Chúng ta chính là hoa trái của sứ mạng này của Giáo Hội dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Chúng ta mang theo nơi mình Chúa Thánh Thần là dấu ấn tình yêu của Thiên Chúa Cha nơi Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta đừng bao giờ quên điều này, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa luôn nhắc nhớ mỗi cá nhân, và mong muốn khơi dậy làn gió và ngọn lửa của một lễ Hiện xuống mới trong thế giới, đặc biệt qua các bạn là những người trẻ.

5.Chúa Thánh Thần là “Thầy Dạy đời sống nội tâm”

Các bạn trẻ thân mến, ngày nay Chúa Thánh Thần bằng sức mạnh của Ngài vẫn còn tiếp tục họat động trong Giáo Hội, và hoa trái của Thần Khí càng gia tăng cách dồi dào trong chúng ta khi chúng ta biết mở lòng mình ra đón lấy sức mạnh này để đổi mới mọi sự. Với lý do này, điều quan trọng là mỗi người trong chúng ta phải nhận biết Thần Khí ấy và sống tương quan với Ngài và để Ngài hướng dẫn chúng ta. Tuy nhiên, về điều này, một vấn đề nẩy sinh một cách tự nhiên: Chúa Thánh Thần đối với tôi là Đấng nào? Thực tế, đối với nhiều Kitô hữu, Ngài vẫn là “Đấng Vô Danh”. Đó là lý do tại sao, khi chúng ta chuẩn bị cho ngày quốc tế giới trẻ sắp tới, cha muốn mời gọi các con tìm hiểu về Chúa Thánh Thần cách sâu sắc hơn trên bình diện cá nhân. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng rằng: “Tôi tin kính Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra” (Kinh Tin Kính Nicea-Constantinopoli). Vâng, Chúa Thánh Thần là Thần Khí tình yêu của Cha và Con, là cội nguồn của sự sống làm cho chúng ta nên thánh, “vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Tuy nhiên, điều đó chưa đủ cho chúng ta biết về Chúa Thánh Thần, chúng ta phải đón nhận Ngài như là người hướng dẫn tâm hồn chúng ta, như là “Thầy Dạy đời sống nội tâm” giới thiệu cho chúng ta về mầu nhiệm Ba Ngôi, bởi vì chỉ có Ngài mới khai mở đức tin cho chúng ta và cho phép chúng ta sống đức tin ấy mỗi ngày một hoàn hảo. Thần Khí thúc đẩy chúng ta hướng đến những người khác, nhóm lên trong chúng ta ngọn lửa tình yêu, làm cho chúng ta trở nên những nhà truyền giảng về lòng thương xót của Thiên Chúa.

Cha luôn biết những người trẻ các con, nơi tâm hồn mình, hiểu biết rất rõ về Đức Giêsu và yêu mến Người, và các con rất mong ước được gặp Người và trò chuyện cùng Người. Tuy vậy, các con nên nhớ cách xác quyết rằng Chúa Thánh Thần hiện diện bên trong mỗi người chúng ta sẽ củng cố, thiết lập và xây dựng nhân vị chúng ta trên Ngôi vị của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh. Do đó, chúng ta phải kết thân với Chúa Thánh Thần, để Ngài kết thân chúng ta với Chúa Giêsu.

6. Bí tích Thêm sức và Thánh thể

Có lẽ các con sẽ hỏi rằng chúng ta phải làm thế nào để cho Chúa Thánh Thần canh tân bản thân và gia tăng đời sống thiêng liêng nơi chúng ta? Như các con biết, chúng ta có thể trả lời rằng: chúng ta có thể thực hiện điều đó qua các Bí tích, vì đức tin được khai sinh và được lớn lên trong chúng ta nhờ các Bí tích, đặc biệt là các Bí tích khai tâm Kitô giáo: Rửa tội, Thêm sức và Thánh thể là những Bí tích căn bản và không thể tách rời (x. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1285). Chân lý liên quan đến ba bí tích khai sinh chúng ta trong đời sống Kitô hữu có lẽ bị sao lãng trong đời sống đức tin của nhiều Kitô hữu. Họ xem các bí tích này như những sự kiện đã đi vào quá khứ và không hề có một giá trị thật sự nào trong cuộc sống hiện tại, điều đó giống như những rễ cây đánh mất đi dưỡng chất mang lại sự sống. Điều này cũng xảy ra với nhiều người trẻ xa rời đời sống đức tin sau khi lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Cũng có những người trẻ chưa hề lãnh nhận bí tích này. Tuy nhiên, qua Bí tích Rửa tội, Thêm sức và tiếp đến là Bí tích Thánh Thể, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa Cha, thành anh chị em của Chúa Giêsu, là thành viên của Giáo Hội, có khả năng trở thành chứng nhân đích thực của Tin Mừng, và có thể nếm hưởng được sự hoan lạc trong đức tin.

Do đó cha mời gọi các con hãy suy nghĩ về những gì cha viết cho các con. Ngày nay, đặc biệt rất cần thiết để tái khám phá Bí tích Thêm sức và vai trò quan trọng của nó trong việc phát triển đời sống tâm linh của chúng ta. Những ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức nên nhớ rằng họ đã trở nên “những đền thờ của Chúa Thánh Thần”: Thiên Chúa cư ngụ trong họ. Các con hãy luôn nhận thức điều này và cố gắng để gia tài quý giá này mang đến cho các con những hoa trái thánh thiện. Đối với những ai đã rửa tội nhưng chưa lãnh nhận Bí tích Thêm sức, hãy chuẩn bị để lãnh nhận và nên biết rằng bằng cách này các con sẽ trở nên những Kitô hữu “hoàn hảo”, bởi vì Bí tích Thêm sức làm hoàn thiện hồng ân đã lãnh nhận khi Rửa tội. (x. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1302-1304).

Bí tích Thêm sức ban cho chúng ta sức mạnh đặc biệt để làm chứng và tôn vinh Thiên Chúa trong suốt cuộc đời chúng ta (x. Rm 12,1). Trước hết, bí tích này giúp chúng ta nhận ra chúng ta thuộc về Giáo Hội, “Nhiệm Thể Chúa Kitô”, mà tất cả chúng ta là những chi thể sống động, trong sự liên đới với nhau (x. 1Cr 12, 12-25). Khi để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, mỗi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội có thể góp phần vào việc xây dựng Giáo Hội bằng những đặc sủng được Chúa Thánh Thần ban tặng, “vì Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (x. 1Cr 12,7). Khi Thánh Thần họat động, Ngài ban cho linh hồn những hoa quả của Ngài, như “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (x Gal 5,22). Đối với những ai trong các con chưa lãnh nhận Bí tích Thêm sức, cha chân thành mời gọi hãy chuẩn bị lãnh nhận bí tích này, và tìm sự trợ giúp nơi các linh mục của các con. Đó chính là cơ hội đặc biệt của ân sủng mà Thiên Chúa tặng ban cho các con. Đừng bỏ lỡ cơ hội này!

Cha cũng muốn nói về Bí tích Thánh Thể. Để lớn lên trong đời sống Kitô hữu, chúng ta cần được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu của Đức Kitô. Thực vậy, chúng ta được rửa tội và được thêm sức nhằm hướng đến Bí tích Thánh Thể (x. Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, 1322; “Sacramentum Caritatis”, 17). “Cội nguồn và chóp đỉnh” của đời sống Giáo Hội, Bí tích Thánh Thể là “lễ Hiện xuống không ngừng”, bởi vì mỗi giây phút chúng ta cử hành Thánh lễ là chúng ta lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đấng liên kết chúng ta mật thiết với Đức Kitô và biến đổi chúng ta nên giống Người. Các bạn trẻ thân mến của cha, nếu các con thường xuyên tham dự cử hành Thánh thể, nếu các con dành thời gian để tôn sùng Bí tích cực thánh này, thì từ nguồn mạch tình yêu là Bí tích Thánh Thể, các con sẽ hân hoan cống hiến cuộc sống của các con cho các đòi hỏi của Tin Mừng. Đồng thời, các con cũng có thể cảm nghiệm được rằng khi sức lực của chúng ta không đủ, thì Chúa Thánh Thần, đấng biến đổi chúng ta, sẽ lấp đầy chúng ta bằng sức mạnh của Ngài và làm cho chúng ta trở nên những nhân chứng tràn đầy nhiệt tình truyền giáo của Đức Kitô Phục sinh.

7. Nhu cầu và tính cấp bách của việc truyền giáo

Nhiều người trẻ nhìn cuộc sống của họ với sự e ngại và đặt ra nhiều câu hỏi cho tương lai. Họ khắc khoải chất vấn: Làm sao chúng ta có thể hòa nhập vào trong một thế giới đang được ghi dấu bởi quá nhiều những bất công tàn bạo và quá nhiều những đau khổ? Chúng ta nên làm thế nào để đối phó với tính ích kỷ và nạn bạo lực đôi khi chiếm ưu thế? Chúng ta làm thế nào để cho cuộc sống của mình đầy ý nghĩa? Làm cách nào để những hoa trái của Thần Khí được nói đến ở trên, “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (số 6) có thể phủ lấp thế giới đầy đau khổ và dễ vỡ, là thế giới của hầu hết mọi người trẻ? Trong hoàn cảnh nào thì Thần Khí mang lại sự sống của cuộc tạo dựng đầu tiên và đặc biệt của công cuộc tạo dựng thứ hai, hay còn gọi là công cuộc cứu độ, có thể trở thành một linh hồn mới của nhân loại? Chúng ta đừng quên rằng hồng ân cao quý của Thiên Chúa càng lớn lao – và hồng ân của Thần Khí của Đức Giêsu là cao quý nhất trong tất cả các ân huệ - thì nhu cầu của thế giới đón nhận ân huệ này càng lớn, cho nên sứ mạng của Giáo Hội trở nên nhân chứng đáng tin cậy cho thế giới càng lớn lao và sinh động hơn. Các con là những người trẻ, qua Ngày quốc tế giới trẻ, các con được mời gọi tham dự vào sứ mạng này. Về khía cạnh này, các bạn trẻ thân mến của cha, cha muốn nhắc các con vài chân lý chính yếu để các con suy niệm. Một lần nữa cha xin lặp lại là chỉ có Đức Kitô mới có thể lấp đầy mọi khát vọng thầm kín nhất trong tâm tư của mọi con người. Chỉ có Đức Kitô mới có thể nhân hoá bản tính con người và đưa nó đến sự “thần hóa”. Nhờ sức mạnh Thần Khí của Người, Người đổ tràn đức ái thần linh của Người trong chúng ta, làm cho chúng ta có khả năng yêu thương người thân cận và sẳn sàng phục vụ họ. Chúa Thánh Thần soi sáng chúng ta, mạc khải cho chúng ta về Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, và chỉ cho chúng ta cách thức để trở nên giống Người hơn, để chúng ta có thể “trở nên hình ảnh và dụng cụ của tình yêu tuôn chảy từ Đức Kitô” (“Deus caritas est”, 33). Những ai để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn sẽ hiểu rằng việc phục vụ Tin Mừng không phải là một điều phụ thuộc chẳng có tính bắt buộc, bởi vì họ hiểu được tính khẩn cấp của việc loan báo Tin Mừng cho người khác. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ lại rằng chúng ta chỉ nên nhân chứng của Đức Kitô khi chúng ta để mình được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, Đấng là “tác nhân chính yếu của việc loan báo Tin Mừng” (x. Evangelii Nuntiandi, 75) và “ tác nhân chính yếu của việc truyền giáo” (x. Redemptoris Missio, 21).

Các bạn trẻ thân mến của cha, như những người tiền nhiệm đáng kính của cha là Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II đã phát biểu trong vài dịp, ngày nay đối với các tín hữu, việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng càng cần thiết hơn bao giờ hết (x. Redemptoris Missio, 1). Có nhiều người nghĩ rằng việc trình bày kho tàng đức tin quý giá cho những người không cùng chia sẻ niềm tin với chúng ta có nghĩa là gây khó chịu cho họ, nhưng vấn đề không nằm ở chỗ đó, bởi vì việc trình bày Chúa Kitô không có nghĩa là áp đặt Người (x. Evangelii Nuntiandi, 80). Hơn nữa, cách đây hai ngàn năm, Mười Hai Tông đồ đã hiến dâng cuộc sống mình để mọi người được biết và yêu mến Đức Kitô. Suốt nhiều thế kỷ sau đó, Tin Mừng được tiếp tục loan báo nhờ những con người được tác động bởi niềm hăng sai truyền giáo. Ngày nay cũng cần các môn đệ của Chúa Kitô hăng hái cống hiến thời gian và sức lực để phục vụ cho Tin Mừng. Cũng cần những người trẻ biết để cho tình yêu của Thiên Chúa đốt nóng tâm hồn họ và họ sẽ quảng đại đáp lại lời mời gọi khẩn thiết của Người, cũng như nhiều vị chân phước và vị thánh trẻ đã làm trong quá khứ và cũng như trong thời gian gần đây. Đặc biệt, cha cam đoan với các con rằng Thần Khí của Chúa Giêsu hôm nay cũng mời gọi những người trẻ các con hãy trở thành những người mang Tin Mừng của Chúa Giêsu cho những người đồng thời với các con. Khó khăn không thể chối cãi của những người lớn khi muốn tiếp cận một cách đầy cảm thông và thuyết phục thế giới của những người trẻ có thể là dấu chỉ qua đó Chúa Thánh Thần muốn thúc đẩy chính những người trẻ các con phải đảm nhận nhiệm vụ này. Các con biết nhiều tư tưởng, ngôn ngữ, và cũng như những vết thương, những nỗi khắc khoải, và đồng thời các con cũng mong muốn cống hiến những gì tốt đẹp cho những người đương thời. Điều này mở ra một thế giới rộng lớn của những cảm xúc, công việc, sự giáo dục, những nỗi khắc khoải, và đau khổ của người trẻ... Mỗi người trong các con phải can đảm tuyên hứa cùng Chúa Thánh Thần rằng các con sẽ mang đến cho Chúa Giêsu một người trẻ theo cách tốt nhất của các con, các con phải biết cách “trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của các con, nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3,15).

Để có thể đạt được mục tiêu này, các bạn trẻ thân mến của cha, các con phải nên thánh và phải là những nhà truyền giáo, bởi vì chúng ta không thể nào tách rời sự thánh thiện ra khỏi việc truyền giáo (x. Redemptoris Missio, 90). Các con đừng bao giờ sợ trở thành những vị thánh truyền giáo giống như thánh Phanxicô Xaviê đã du hành đến miền Viễn Đông để loan báo Tin Mừng cho đến hơi thở cuối cùng, hay giống như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là nhà truyền giáo mặc dù ngài chưa bao giờ rời khỏi tu viện Cát Minh. Cả hai ngài là “Những Thánh Bổn Mạng của Các Xứ Truyền Giáo”. Các con hãy sẵn sàng đánh đổi cuộc đời của các con để soi sáng thế giới bằng chân lý của Chúa Kitô, đáp lại lòng căm thù và việc xem thường mạng sống bằng tình yêu, để loan báo niềm hy vọng vào Chúa Kitô phục sinh ở mọi nơi trên trái đất này.

8. Việc khẩn cầu “một lễ Hiện Xuống mới” trên thế giới

Các bạn trẻ thân mến của cha, cha hy vọng gặp lại tất cả các con tại Sydney vào tháng 7 năm 2008. Đó sẽ là cơ hội mà Thiên Chúa quan phòng để chúng ta cảm nghiệm được sự hoàn hảo của sức mạnh Chúa Thánh Thần. Các con hãy đến đấy thật nhiều để trở nên dấu hiệu của niềm hy vọng và đem đến cho cộng đòan Giáo Hội tại Úc đang chuẩn bị đón tiếp các con một khích lệ lớn lao. Đối với các người trẻ ở quốc gia đón tiếp các con, đó sẽ là cơ hội hiếm có để loan báo vẽ đẹp và niềm vui của Tin Mừng cho xã hội bị tục hóa về nhiều phương diện. Nước Úc cũng giống như tất cả các quốc gia của Châu Đại Dương, cần phải tái khám phá căn tính Kitô giáo của mình. Trong Tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục Châu Đại Dương, đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tại Châu Đại Dương chuẩn bị cho công cuộc loan báo Tin Mừng mới cho các dân tộc ngày nay đang khao khát Đức Kitô... Công cuộc loan báo Tin Mừng mới là ưu tiên hàng đầu cho Giáo Hội tại Châu Đại Dương” (số18).

Cha mời gọi các con hãy dành thời gian để cầu nguyện và đào luyện tâm linh trong suốt giai đọan cuối của hành trình hướng đến Ngày quốc tế giới trẻ lần thứ 23, để tại Sydney các con có thể canh tân lại lời hứa mà các con đã tuyên hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức. Cùng với nhau chúng ta sẽ khẩn cầu Chúa Thánh Thần, tin tưởng nài xin Thiên Chúa ban ân sủng của một lễ Hiện Xuống mới cho Giáo Hội và nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba này.

Nguyện xin Mẹ Maria, đấng đã cùng với các Tông đồ cầu nguyện tại Căn Phòng Trên Gác, đồng hành với các con trong suốt những tháng ngày này và lãnh nhận cho những người Kitô hữu trẻ hồng ân mới mẽ của Chúa Thánh Thần để nung nấu con tim họ. Các con hãy nhớ rằng: Giáo Hội đặt niềm tin nơi các con! Chúng tôi là các Chủ Chăn, cách đặc biệt nguyện chúc các con thêm lòng yêu mến và biết hướng dẫn người khác yêu mến Chúa Giêsu, và chúc các con luôn dõi bước theo Người cách trung tín. Với tất cả tấm lòng, cha chúc lành cho tất cả các con.

Từ Lorenzago, ngày 20 tháng 07 năm 2007
Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI


Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2008

CHUA NHAT 2 PHUC SINH- NAM A

Tôma- “Ông Tổ Thực Nghiệm”

Chúa nhật 2 Phục sinh A

(Ga 20, 19-31)

Chúa nhật thứ 2 Phục sinh, Giáo hội mời gọi chúng ta tiếp tục khám phá thực tại mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giêsu qua lăng kính của một môn đệ vốn được mệnh danh là “ông tổ thực nghiệm” - Tôma Đyđymô, để xác tín niềm tin vào Chúa Phục sinh cách mạnh mẽ; đồng thời tuyên xưng niềm tin đó cho muôn người.

Tôma “sinh đôi” hay còn gọi là Đyđimô, người làng Galilê, một trong số 12 môn đệ của Chúa Giêsu. Tin mừng nói rất ít về người môn đệ này. Tôma trong Tin mừng Gioan chỉ xuất hiện vỏn vẹn bốn lần, nhưng có đến ba lần ông xuất hiện trong những trường hợp rất đặc biệt, để lại những dấu ấn khó phai mờ.

Lần thứ nhất khi Chúa Giêsu muốn lên đường tiến về Giuđê, về làng Bêtania thăm lại người bạn Ladarô “đang yên giấc” của Người. Trong khi các môn đệ can ngăn vì cho rằng điều đó hết sức nguy hiểm bởi người Dothái đang tìm cách trừ khử Chúa, thì Tôma dỏng dạc tuyên bố: “Chúng ta cùng đi (lên Giuđê) để cùng chết với Thầy” (Ga 11, 16b). Rõ ràng Tôma là con người rất nhiệt thành, tận tuỵ và dám hy sinh. Tính cách của ông so với các môn đệ kia là rất riêng, rất đặc trưng, nó chứng tỏ ông là con người dám nghĩ, dám nói và dám làm trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Lần thứ hai trong diễn từ Biệt ly của Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu khuyên nhủ các môn đệ đừng xao xuyến và lo lắng vì sự ra đi của Người. Bởi việc Người ra đi là có lợi cho các ông. Người đi để dọn chỗ cho các ông. Các ông vốn không hiểu Chúa Giêsu muốn nói gì, giờ lại nghe Người “bồi” thêm một câu nữa : “Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi”, làm các ông rối tung cả lên, chả hiểu gì thêm được nữa. Trong lúc các môn đệ vừa buồn phiền vừa chẳng hiểu Thầy nói gì, Tôma lại lên tiếng : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14, 5). Câu hỏi của Tôma là nguyên nhân dẫn đến câu trả lời bất hủ của Chúa Giêsu, tóm trọn đạo lý của Thầy : “Thầy là Đường, là Sự thật và là Sự sống”.

Lần thứ ba là câu chuyện sau khi Chúa sống lại. Lần hiện ra đầu tiên, Tôma vắng mặt. Tin mừng không nói lý do nhưng chúng ta có thể hiểu tâm trạng của Tôma cũng như của hầu hết các môn đệ trước biến cố xảy đến cho Thầy. Như hai môn đệ Emmau, chắc hẳn Tôma cũng buồn phiền, lo lắng, thậm chí chạy trốn nữa, nhưng ông không thể rời xa cộng đoàn thân yêu của mình. Chính vì thế, ông đã quay về, ở lại để rồi chứng kiến việc Chúa Phục sinh hiện ra cho riêng cá nhân ông. Nghe các môn đệ thuật lại câu chuyện Thầy sống lại, Tôma thấy có điều gì đó không ổn. Không ổn là bởi vì Tôma cho rằng các môn đệ vì quá thương nhớ Thầy, tâm trí căng thẳng nên sinh ra những tưởng tượng chứ thực tế làm gì có. Theo ông việc này chớ vội vàng, cần phải kiểm nghiệm rõ ràng. Vì thế, ông dỏng dạc tuyên bố chính kiến của mình : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng tin”. Các môn đệ khác thì im lặng, đuối lý, còn Tôma thì ra sức chờ đợi và hy vọng…

“Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Chúa Phục sinh hiện đến, đáp ứng những đòi hỏi, những lý luận mang tính thực nghiệm của Tôma. Chúng ta thấy phản ứng tức thời của Tôma cũng chính là lời tuyên xưng duy nhất trong Tin mừng như để chuộc lại lỗi lầm vì đã không tin vào điều các môn đệ truyền lại : “Lạy Chúa của con! Lạy Thiên Chúa của con!”. Lời tuyên xưng của Tôma là nguồn cảm hứng được vang vọng trong kinh Tin kính của cộng đoàn Kytô tiên khởi và lưu truyền mãi đến muôn đời. Đây cũng là lời tuyên xưng của một con người tận mắt chứng kiến Đấng từ cõi chết sống lại để rồi trọn đời, Tôma đã sống và đã chết với lời tuyên xưng ấy.

Niềm tin vào Chúa Kytô Phục sinh không phải là một niềm tin ảo tưởng, mụ mẫm, rẽ tiền mà là niềm tin được chính Chúa Phục sinh hiện ra nhiều lần cho các môn đệ và đặt biệt, được chính Tôma “kiểm chứng” bằng phương pháp thực nghiệm rõ ràng. Chính vì thế, chúng ta- những người thừa kế di sản Tin mừng và tiếp nối niềm tin vào Chúa Phục sinh do các môn đệ truyền lại, nguyện sẽ không ngừng sống, loan báo và làm chứng niềm tin đó cho nhân loại.

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2008

SU DIEP PHUC SINH NAM 2008 CUA DUC THANH CHA XVI

Sứ Ðiệp Phục Sinh năm 2008

của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI

Sứ Ðiệp Phục Sinh năm 2008 của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI:

Resurrexi, et adhuc tecum sum. Alleluia! -

Con đã sống lại, Con vẫn hiện diện bên cạnh Cha. Alleluia!

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu, Ðấng chịu đóng đinh và đã sống lại, hôm nay lặp lại cho chúng ta lời công bố đầy vui mừng này: đó là lời công bố biến cố Phục Sinh. Chúng ta hãy chào đón lời công bố này với sự kinh ngạc sâu xa và lòng tri ân!

Resurrexi et adhuc tecum sum - Con đã sống lại, Con vẫn ở bên Cha đến muôn đời.

Ðược trích từ bản văn cổ xưa của Thánh Vịnh 138 (câu 18b), những lời này vang lên vào khởi đầu Thánh Lễ hôm nay. Trong những lời đó, vào lúc mặt trời Phục Sinh mọc lên, Giáo Hội nhận ra chính giọng nói của Chúa Giêsu, là Ðấng khi trỗi dậy từ trong kẻ chết, thì hướng về Chúa Cha đầy hạnh phúc và tình thương, và thốt lên: Thưa Cha, này con đây! Con đã sống lại, Con vẫn kề cận bên Cha, và Con sẽ ở bên Cha mãi mãi; Thánh Thần của Cha đã không bao giờ bỏ rơi Con. Như thế, chúng ta có thể hiểu một cách mới mẽ những kiểu nói khác nữa trong thánh vịnh 138 này như sau: "Con có lên trời, Chúa đang ngự đó; Con xuống dưới âm ty, Chúa vẫn có đó... Cả những bóng tối cũng chẳng u tối đối với Chúa, và đêm đen thì sáng tỏ như ban ngày; đối với Chúa, bóng tối cũng là như ánh sáng." (Tv 138:8-12). Thật thế: trong đêm canh thức Phục Sinh trọng thể này, bóng tối trở thành ánh sáng, đêm đen nhường chỗ cho ngày mới không biết đến chiều tà. Cái chết và sự phục sinh của Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể là một biến cố của tình yêu không gì có thể hơn được, là chiến thắng của Ðấng là Tình Yêu, là Ðấng đã giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và sự chết. Biến cố ấy đã thay đổi được giòng lịch sử, vừa đưa vào trong cuộc sống con người ý nghĩa và giá trị đã được canh tân và không thể phai tàn đi được.

"Con đã sống lại, Con vẫn kề cận bên Cha đến muôn đời". Những lời này mời gọi chúng ta chiêm ngắm Chúa Kitô phục sinh, vừa để cho tiếng nói của Ngài vang lên trong tâm hồn ta. Với hy tế có giá trị cứu chuộc của Ngài, Chúa Giêsu thành Nagiarét đã làm cho chúng ta trở nên những con cái của Thiên Chúa, sao cho giờ đây chúng ta có thể đưa mình vào trong công cuộc đối thoại mầu nhiệm giữa Người và Chúa Cha. Chúng ta nhớ lại tất cả những gì mà một ngày kia Người đã nói với những ai đang lắng nghe: "Mọi sự đã được Cha Ta giao phó cho Ta. Và không ai biết rõ Cha trừ ra Con và kẻ mà Con muốn mặc khải cho" (Mt 11:27). Trong viễn tượng này, chúng ta ghi nhận rằng những lời Chúa Giêsu phục sinh nói với Chúa Cha hôm nay - "Con vẫn kề cận bên Cha đến muôn đời" - cũng áp dụng gián tiếp cho cả chúng ta nữa, "những con cái của Thiên Chúa và là những người đồng thừa tự với Chúa Kitô, miễn là chúng ta cùng chịu đau khổ với Người, để tham dự vào vinh quang của Người" (x Rm. 8:17). Nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô, thì ngày hôm nay cả chúng ta đây, chúng ta được sống một cuộc sống mới, và nhờ kết hiệp tiếng nói chúng ta với tiếng nói của Người, chúng ta công bố rằng chúng ta muốn ở lại mãi mãi bên Thiên Chúa, Cha chúng ta, Ðấng tốt lành và nhân từ vô cùng.

Như thế, chúng ta tiến vào trong chiều sâu của mầu nhiệm Vượt Qua. Biến cố đáng kinh ngạc về sự Phục sinh của Chúa Giêsu thiết yếu là một biến cố của tình yêu: tình yêu của Chúa Cha, Ðấng trao ban Con Ngài để cứu rỗi thế gian; tình yêu của Chúa Con, Ðấng phó thác chính mình cho thánh ý Chúa Cha, vì tất cả chúng ta; tình yêu của Chúa Thánh Thần, Ðấng làm cho Chúa Giêsu phục sinh từ trong kẻ chết trong thân xác được vinh hiển của Người. Và còn nữa: tình yêu của Chúa Cha, Ðấng giang tay "ôm lại" Con Một mình, vừa bao bọc Người trong vinh quang; Tình yêu của Chúa Con, Ðấng nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà trở về cùng Thiên Chúa Cha, mang theo nhân loại chúng ta đã được biến đổi.

Từ lễ nghi long trọng hôm nay, một nghi lễ làm cho chúng ta sống lại kinh nghiệm tuyệt đối và riêng biệt của sự phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta nghe được lời mời gọi trở lại với Tình Yêu Thiên Chúa; chúng ta nghe được lời mời gọi hãy sống giải thoát khỏi trừ thù hận và ích kỷ, và hãy vâng phục bước theo những bước chân của Chiên Con bị sát tế để cứu rỗi chúng ta, hãy bắt chước Ðấng Cứu Ðộ "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng", Ðấng là "nơi yên nghỉ cho linh hồn chúng ta" (x. Mt 11:29).

Thưa anh chị em Kitô khắp nơi trên thế giới, hỡi những con người nam nữ có tinh thần chân thành mở rộng đón nhận sự thật! Ước gì không một ai đóng kín con tim mình trước quyền năng của tình yêu cứu chuộc! Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại cho tất cả mọi người; Ngài là niềm hy vọng của chúng ta; là niềm hy vọng đích thật của từng người. Hôm nay, --- như xưa Người đã làm với các môn đệ tại Galilê trước khi về với Chúa Cha, --- Chúa Giêsu phục sinh cũng sai chúng ta đến mọi nơi, như những chứng nhân cho niềm hy vọng của Người và Người bảo đảm với chúng ta rằng: Thầy sẽ ở cùng anh em luôn mọi ngày cho tới tận thế (x. Mt 28:20). Khi hướng nhìn về những vết thương vinh hiển nơi thân xác đã được biến đổi của Người, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa và giá trị của đau khổ, chúng ta có thể chăm sóc cho nhiều vết thương đang tiếp tục rỉ máu nơi nhân loại, cả trong những ngày chúng ta đang sống. Nơi những thương tích vinh hiển của Người, chúng ta nhận ra những dấu chỉ không thể phai nhoà của lòng nhân từ vô cùng của Thiên Chúa, Ðấng mà tiên tri Isaia nói đến như sau: Ngài là Ðấng chữa lành những vết thương của những tâm hồn tan nát, là Ðấng bảo vệ những kẻ yếu đuối và công bố sự tự do cho những ai làm nô lệ, là Ðấng yên ủi tất cả những ai sầu khổ, là Ðấng ban cho họ dầu của niềm vui thay cho chiếc áo tang chế; là bài ca chúc tụng thay cho một tâm hồn sầu thương (x. Is 61:1,2,3). Nếu chúng ta xích lại gần Người với một lòng tín thác khiêm cung, chúng ta sẽ gặp thấy trong cái nhìn của Người câu trả lời cho những khát vọng sâu xa nhất trong tim chúng ta: đó là được biết Chúa và được thiết lập với Người một tương quan sống động, một tương quan đổ tràn đầy tình thương của Người vào cuộc sống chúng ta và vào trong những tương quan quốc tế và xã hội chúng ta. Vì thế, nhân loại cần đến Chúa Kitô: trong Người, niềm hy vọng chúng ta, "chúng ta đã được ơn cứu rỗi" (x Rm 8:24).

Biết bao lần, những tương quan giữa cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm với nhau, giữa các dân tộc với nhau, thay vì được tình thương ghi dấu, thì lại bị ghi dấu bởi ích kỷ, bởi bất công, hận thù, bạo lực! Ðó là những tai ương của nhân loại, những vết thương công khai và gây ra đau khổ ở mọi nơi trên mặt đất, cho dù những vết thương thường không được biết đến và đôi khi bị cố ý che đậy; đó là những vết thương làm tan nát tinh thần và thân xác của vô số anh chị em chúng ta. Những vết thương đó đang chờ được chăm sóc và chữa lành bởi những vết thương vinh hiển của Chúa Phục Sinh (x 1 pherô 2:24-25) và bởi tình liên đới của tất cả những ai, theo bước chân Chúa và nhân danh Người, thực thi những công việc của tình thương, dấn thân hữu hiệu cho công lý, và phổ biến quanh mình những dấu chỉ sáng chói của niềm hy vọng, tại những nơi đẫm máu vì xung đột và tại bất cứ nơi nào mà phẩm giá con người tiếp tục bị xỉ nhục và chà đạp. Ước mong là tại chính những nơi đó được tăng thêm nhiều hơn những lời chứng cho sự hiền từ dịu dàng và sự tha thứ.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy để cho ánh sáng rạng ngời của Ngày long trọng hôm nay soi sáng chúng ta; với lòng phó thác chân thành, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa Kitô phục sinh, ngỏ hầu sức mạnh canh tân của Mầu nhiệm Vượt Qua được biểu lộ nơi mỗi người chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong những thành phố và trên đất nước chúng ta. Ước chi sức mạnh canh tạn của Mầu Nhiệm Vượt Qua được biểu lộ mọi nơi trên thế giới. Ðặc biệt trong giây phút này, làm sao không nghĩ đến vài vùng bên Phi châu, như tại Darfur và Somalia, nghĩ đến vùng Trung Ðông đẩm máu, nhất là đến Thánh Ðịa, đến Iraq, Liban, và cuối cùng đến Tibet; Ðây là những vùng đất mà tôi khuyến khích đi tìm những giải đáp duy trì được điều thiện hảo và bình an! Chúng ta hãy khẩn xin Chúa ban cho dư đầy những hồng ân phục sinh, nhờ lời cầu bàu của Mẹ Maria; Mẹ đã cảm nghiệm được niềm vui khôn tả của sự Phục Sinh Chúa, sau khi đã chia sẽ những đau khổ của cuộc thương khó và chịu đóng đinh của Con Mẹ, Ðấng Vô Tội. Ðược liên kết với vinh quang của Chúa Kitô, Xin Mẹ hãy bảo vệ và hướng dẫn chúng ta trên con đường của tình huynh đệ liên đới và hoà bình.

Ðây là những lời cầu chúc Phục Sinh của tôi, gởi cho anh em hiện diện nơi đay, và cho những con người mọi đại lục và quốc gia, được kết hiệp với chúng ta qua đài phát thanh và truyền hình. Chúc Mừng Phục Sinh tất cả anh chị em!

Bênêđitô XVI, Giáo hoàng

Quý vị và các bạn thân mến! Sau những lời trên, Ðức Thánh Cha chúc mừng Phục Sinh bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, trong đó có tiếng Việt Nam: "Mừng Lễ Phục Sinh". Như quý vị và các bạn đã biết, trong suốt Thánh Lễ Phục Sinh sáng Chúa Nhật do ÐTC cử hành tại Thềm Ðền Thờ Thánh Phêrô, thời tiết tại Roma rất xấu, mưa tầm tả. Hàng trăm ngàn tín hữu tham dự tại quảng trường núp mình dưới rừng dù muôn màu. Kết thúc Sứ Ðiệp Phục Sinh, ÐTC đã ban Phép Lành long trọng cho thành Roma và cho toàn thế giới - URBI et ORBI - cùng với ơn toàn xá, cho những tín hữu hiện diện tại quảng trường và cho những tín hữu nào hiệp ý tham dự qua các Ðài Phát Thanh Truyền Hình và các phương tiện thông tin internet.

(Bản dịch Việt ngữ của Ðặng Thế Dũng)

TU SI ANH, CHI LA AI ?

TU SĨ
Anh, Chị là ai?

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,300,000 tu sĩ công giáo nam và nữ. Họ là ai? Lịch sử của đời sống tu trì bắt nguồn từ đâu? lúc nào? Sự khác biệt giữa các hội dòng là gì? Tháng 10-1994, một Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới về "Ðời Sống Tận Hiến" đã được triệu tập tại Rôma cho thấy Giáo Hội có một quan tâm đặc biệt đến vai trò của các tu sĩ.

Ở Việt Nam, giới tu sĩ luôn có một vị trí tích cực và hữu hiệu trong đời sống chứng tá Tin Mừng giữa xã hội. Họ như thể hiện một bộ mặt nhân ái của Giáo Hội đối với cuộc đời.

Thế thì Tu Sĩ, các anh, các chị là ai? bài này xin giới thiệu với tất cả quý độc giả một câu trả lời.

I. Hiện diện từ buổi đầu của Kitô Giáo

Sống thành các cộng đoàn, tu sĩ là những người "đi theo Chúa", chấp nhận một đời sống chung trong khó nghèo, độc thân, và vâng lời vì mến Chúa. Và trong quá trình Lịch Sử, đời sống tu trì đó đã dần dần được củng cố và đa dạng hóa.

Những "tu sĩ của hoang địa" ở phương Ðông

Ngay từ thế kỷ thứ III, một nông dân trẻ người Ai Cập tên là Antôn, sau khi hiểu được lời của Chúa nói với người thanh niên trẻ tuổi trong Tin Mừng: "Nếu anh muốn trở nên hoàn hảo thì hãy đi bán tất cả tài sản của anh rồi theo ta", đã quyết định lui vào sống ẩn dật trong hoang địa để cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, ăn chay hãm mình và lao động chân tay. Thế là có nhiều người khác noi gương anh và cũng làm như thế.

Cho đến năm 330, Pacôme, cũng một người Ai Cập, thấy rằng cuộc sống ẩn dật lẻ loi như thế cũng có nguy hiểm, nên đã thành lập một tu viện đầu tiên và đề ra những lề luật để sống thành cộng đoàn. Thế là các tu viện nhanh chóng được nhân ra ở phương Ðông: Xyri, Palestin... Và cả ở phương Tây bởi các Ðức Giám Mục: ÐGM Martin ỏ Ligugé và Marmoutier, ÐGM Honorat ở Lérins, ÐGM Césaire ở Arles... tại Bắc Phi, ÐGM Augustin ở Hippone cùng với các linh mục của mình đã thành lập một kiểu cộng đoàn sống nối kết tinh thần tu trì với sứ vụ tông đồ.

Thánh Benoit, ông tổ của các tu sĩ phương Tây

Vào đầu thế kỷ thứ VI, cũng trong chiều hướng muốn sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa mà Benoit de Nursie, 20 tuổi, đã lui về sống ẩn dật ở Subiaco, rồi sau đó ở núi Cassin, nơi đây, ngài đã soạn ra những điều luật mà về sau trở thành "Hiến Chương cho đời sống tu trì ở phương Tây". Như thế tu viện trở nên như một gia đình trong đó vị bề trên là gia trưởng, như một hình ảnh của nước Chúa ở trần gian.

Nhưng rồi những cám dỗ của quyền lực và của vật chất đã đưa đến việc các con cái của Thánh Benoit phải nhiều lần cải tổ dòng của mình: Cluny vào thế kỷ thứ X; Citeaux - Clairvaux vào các thế kỷ XI và XII.

Các dòng khất sĩ

Vào thế kỷ XIII, sự giàu sang của Giáo Hội đã làm nảy sinh những dòng khất sĩ như một phản ứng lại: những người hành hương hòa bình, gần gũi với người nghèo như Dòng Anh Em Hèn Mọn (Phanxicô) của Thánh Phanxicô thành Assise; hoặc là những người nghiên cứu và rao giảng chân lý như Dòng Ðaminh của Thánh Ðôminicô.

Cũng vào thời gian này, trên núi Carmel ở Palestin, các ẩn sĩ đã thành lập một dòng chiêm niệm lẽ ra đã không còn nữa vào thế kỷ XVI, Thérèse d'Avila cùng với Jean de la Croix không làm cho nhà dòng tìm lại được sự nhiệm nhặt ban đầu trong tinh thần mới.

Dòng Tên, Dòng Nữ Tử Bác Ái...

Vào thế kỷ XVI, thời kỳ Phục Hưng và những thái quá của nó, thời kỳ ly khai của Luther, và sau việc khám phá ra châu Mỹ, Ignace de Loyola thành lập một cách thành công Dòng Tên trong đó các tu sĩ có nhiệm vụ phục vụ Giáo Hội - đặc biệt là Ðức Giáo Hoàng.

Giới nữ cũng muốn hiến thân phục vụ nhân loại trong những lãnh vực giáo dục, giúp đỡ người nghèo, người bệnh tật. Nhưng trong thế kỷ XVI, Giáo Hội còn giữ họ lại trong tu viện như các dòng của Angèle de Mérici ở Ý, của Francois de Salles và của Jeanne de Chantal ở Pháp. Tuy nhiên, đến thế kỷ XVII thì Giáo Hội cũng chấp nhận cho Dòng Nữ Tử Bác Ái của Vincent de Paul và Louise de Marillac, một dòng "lấy bệnh viện làm nhà dòng, lấy đường phố làm nhà ở..."

Thời kỳ nở rộ các dòng tu

Các thế kỷ XVII và XVIII được coi là thời kỳ của các dòng thừa sai đi truyền đạo ở nước ngoài hay phục vụ các tầng lớp quần chúng trong nước, cũng như là phục vụ giáo dục: các sư huynh trường công giáo...

Sau cuộc Cách mạng 1789, thế kỷ XIX chứng kiến sự hồi phục của các dòng tu. Và nhất là sự nở rộ các dòng chuyên về thừa sai, giáo dục thanh niên (Dòng Don Bosco), dạy học, đại kết, hành hương và báo chí (Dòng Thăng Thiên)...

Nhưng những luật lệ có tính chất chống các dòng tu vào những năm 1880, 1901 và 1904 ở Pháp đã gây ra vào đầu thế kỷ XX các vụ đóng cửa trường học công giáo, các vụ bắt bớ và trục xuất tu sĩ... Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, xuất hiện các dòng tu nhằm phục vụ giới thợ thuyền, phục vụ nông thôn, hay theo gương và theo tinh thần của cha de Foucauld.

Những cộng đoàn mới

Từ Công Ðồng Vaticanô II, các dòng tu đã có những định hướng lại chọn lựa của mình. Và nhiều cộng đoàn mới xuất hiện, thường thì mở ra và quy tụ nhiều thành phần trong xã hội: những người độc thân, những người đã có gia đình, các linh mục...

Và với thời gian, các cộng đoàn này có những quy chế đặc biệt cho mình.

II. Ðời sống tu trì là gì?

Theo dòng thời gian, cùng với việc sáng lập các hội dòng, các tu viện, các cộng đoàn, và cùng với kinh nghiệm, những tính chất căn bản của đời sống tu trì cũng được đề ra.

Một lời mời gọi của Chúa

Tất cả mọi Kitô hữu, qua phép Rửa, quyết tâm xa lánh tội lỗi để sống với Ðức Kitô. Mọi người được mời gọi vào cuộc sống thánh thiện, "trở nên hoàn hảo như Cha trên trời là Ðấng hoàn hảo". Nhưng Thiên Chúa cũng kêu gọi một số người thể hiện quyết tâm này ở một mức độ trọn vẹn hơn bằng cách từ bỏ mọi sự để theo Ðức Kitô (như Chúa Giêsu đã kêu gọi người thanh niên giàu có trong Tin Mừng). Ðể đáp lại ơn gọi này và để "dâng hiến" trọn vẹn cho Thiên Chúa, những Kitô hữu nam, nữ này đã chấp nhận một cách tự do một cuộc sống đặc biệt, được Giáo Hội công nhận.

Các lời khấn theo đòi hỏi của Tin Mừng

Ðể theo sát gương Ðức Kitô trong Tin Mừng, Người đã sống nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời Chúa Cha, các tu sĩ chấp nhận hy sinh một cách triệt để ba lãnh vực quan trọng của đời sống con người: của cải, tình cảm, tự do. Sau một thời gian là dự tu và tập sinh, người tu sĩ dấn thân "tuyên xưng", bằng các lời khấn, những đòi hỏi của Tin Mừng về sự nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời. Trước hết trong một khoảng thời gian, rồi sau đó là suốt đời.

Nghèo khó

Vì tình yêu, Ðức Kitô đã tự hạ mình xuống để làm người. Ngài đã tách mình ra khỏi mọi sự của thế gian nhưng không khinh chê nó.

Ðức Giêsu đã chia sẻ tất cả với các môn đệ của Ngài: thời giờ, niềmvui, nỗi cực nhọc, công việc, Thần khí. Ngài đã tỏ ra một sự ưu ái đối với người nghèo, các trẻ em, những người bị khinh rẻ vào thời đó.

Người tu sĩ chọn cuộc sống khiêm nhượng, nghèo khó, không có gì làm của riêng, lao động chân tay hoặc trí óc, chia sẻ thân phận mình và những gì mình có được với cộng đoàn của mình và với những người nghèo khổ là những đối tượng mà người tu sĩ có một sự quan tâm đặc biệt.

Ðộc thân trong khiết tịnh

Ðức Kitô đã sống độc thân, không hề biết đến hôn nhân cũng như tình phụ tử, nhưng Ngài không tỏ ra rụt rè trước phụ nữ và cũng không phân biệt đối xử với các môn đệ vì tình trạng độc thân hay đã có gia đình của họ. Vì sứ mạng của mình, Ngài chỉ muốn là Con Thiên Chúa để mạc khải khuôn mặt thật của Chúa Cha và anh em của mọi người.

Qua sự tự nguyện sống độc thân, người tu sĩ muốn sống một cách nào đó tình yêu duy nhất của Ðức Kitô đối với Chúa Cha, và sống một cách sẵn sàng phục vụ mọi người vốn là anh em của mình.

Vâng lời

Chúa Giêsu nói: "Tôi luôn làm theo thánh ý Cha", và "Lương thực của ta là làm theo ý muốn của Ðấng đã sai ta". Và Ngài đã làm như thế cho đến chết...

Ðược Chúa gọi, người tu sĩ sau khi đã dấn thân vào một hội dòng phù hợp với ơn gọi của mình, cam kết tuân giữ một cách tự nguyện Luật dòng do vị sáng lập đề ra hay do hội dòng đề ra theo tinh thần của vị sáng lập. Và phải vâng lời bề trên là những người có nhiệm vụ áp dụng luật dòng một cách huynh đệ. Như vậy, người tu sĩ biểu lộ ước muốn noi gương Ðức Kitô đã thực thi ý muốn của Chúa Cha.

Ðời sống cộng đoàn

Như những Kitô hữu đầu tiên "bỏ tất cả vào làm của chung" và "có chung một trái tim và một linh hồn", người tu sĩ sống một cách bình dị, đơn sơ trong một cộng đoàn. Như trong một gia đình. Họ chia sẻ với nhau Phép Thánh Thể, kinh nguyện, sự im lặng, công việc, sứ mạng, của cải, thức ăn, vui đùa... Với sự hiện diện của chính Ðức Kitô: "Ở đâu có hai hay ba người tụ họp vì danh Ta, thì Ta ở giữa họ". Với cách sống như vậy: yêu thương nhau đến độ tha thứ cho nhau, người tu sĩ là chứng nhân cho đức tin, đức cậy và đức ái.

Cầu nguyện

Tận hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và sống kết hợp với Ngài, người tu sĩ dành một vị trí đặc biệt quan trọng cho việc cầu nguyện để duy trì và đào sâu mối liên hệ với Chúa. Việc cầu nguyện được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, bằng phụng vụ giờ kinh đọc chung với nhau, bằng những giờ yên lặng suy gẫm, bằng những kỳ tĩnh tâm... trong đó Bí Tích Thánh Thể là trung tâm.

Trong Giáo Hội và vì nhân loại

Bằng cả cuộc sống của mình, người tu sĩ là một yếu tố quan trọng trong việc nhắc nhở mọi Kitô hữu rằng họ được mời gọi hướng về sự thánh thiện; rằng Phúc Âm là một Tin Mừng cứu rỗi cho mọi người. Và người tu sĩ giúp Giáo Hội trở nên dấu chỉ cho sự cứu rỗi này trong khi tham gia vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Người Tu Sĩ cũng làm chứng về một thế giới phải đến, trong đó mọi người sẽ được sống trong tinh thần các Mối Phúc thật và trong tình yêu.

III. Trăm hoa đua nở

Hiện nay trên thế giới có 1,243 hội dòng nữ và 250 hội dòng nam. Tất cả các hội dòng này đều tuyên xưng cùng một lý tưởng Tin Mừng. Tuy vậy mỗi hội dòng được khai sinh ra với một tinh thần và một cách sống riêng do đấng sáng lập đề ra để đáp ứng cách tốt nhất những nhu cầu tâm linh của thời đại.

Con số thống kê mới nhật cho biết trên toàn cầu hiện có khoảng 1,300,000 tu sĩ trong đó khoảng 1,000,000 nữ tu và 250,000 nam tu sĩ.

Các dòng nam và nữ (đôi khi bao gồm nhiều nhánh) có số tu sĩ quan trọng là:

NAM

-- Dòng Phanxicô: 35,500 tu sĩ
-- Dòng Tên: 24,300 tu sĩ
-- Dòng Xalêdiêng: 17,000 tu sĩ
-- Dòng Bênêđictin: 9000 tu sĩ
-- ...

NỮ

-- Dòng Phanxicô: 200,000 nữ tu
-- Dòng Nữ Tử Bác Ái: 29,000 nữ tu
-- Dòng Nữ Tu Thánh Giuse: 25,000 nữ tu
-- Dòng Kín: 24,500 nữ tu
-- Dòng Nữ Tu Thương Xót: 23,000 nữ tu
-- Dòng Chúa Quan Phòng: 21,000 nữ tu
-- ...

(Chuyển dịch từ tài liệu của báo Pèlerin
số ra ngày 16-09-1994,)