
Thứ Tư, 28 tháng 11, 2007
CHUA NHAT I MUA VONG - NAM A
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG - NĂM A
TỈNH THỨC CHỜ CHÚA ĐẾN
Với Chúa nhật I mùa Vọng, chúng ta bước vào một năm phụng vụ mới. Năm phụng vụ được tổ chức như một chu kỳ hàng năm để tưởng niệm những mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu Kitô và các ngày lễ của các Thánh. Những mầu nhiệm này đã được hoàn tất trong thời gian của Chúa Giêsu Kitô, nhưng nay vẫn tiếp tục thể hiện trong thời gian của Giáo hội. Lễ Phục sinh chính là khởi điểm, là yếu tố căn bản và qui tụ tất cả các lễ khác. Năm phụng vụ có cơ cấu như hiện nay là cả một quá trình hình thành và phát triển dọc theo chiều dài lịch sử phụng vụ của Giáo hội. Bắt đầu chỉ có lễ Phục sinh, sau thêm lễ Hiện xuống, rồi mùa Chay. Đến thế kỷ IV, người ta bắt đầu mừng lễ Giáng sinh, lễ Hiển linh và cuối cùng thêm vào 4 tuần lễ mùa Vọng.
Mùa Vọng được tổ chức để chuẩn bị đón Chúa Giêsu trong hai lần Người ngự đến. Gồm có hai giai đoạn : Từ Chúa nhật I đến ngày 16/12, các bản văn Kinh thánh dùng trong phụng vụ nói lên sự mong đợi ngày Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang. Từ 17/12 đến 24/12, trực tiếp nói đến ngày sinh nhật của Người. Theo tinh thần canh tân phụng vụ hiện nay, mùa Vọng không còn là mùa thống hối nữa mà là mùa hân hoan mong đợi, mặc dầu phẩm phục vẫn là màu tím và không đọc Kinh Vinh danh.
Mùa Vọng là mùa của những lời loan báo : loan báo việc Chúa sinh ra, loan báo thời gian cứu độ, loan báo ngày trở lại của Chúa Giêsu. Vì thế, các bài đọc của mùa này xoay quanh các chủ đề loan báo ấy. Trong năm A này, các bài đọc I của các Chúa nhật mùa Vọng được trích từ phần I của Sách tiên tri Isaia. Trong các bài này, bài quan trọng nhất được dành cho Chúa nhật IV, với lời loan báo : Một Trinh nữ sẽ thụ thai sinh hạ một con trai được gọi là Emmanuel. Các bài Thánh thư chủ yếu trích thư gửi tín hữu Rôma của Thánh Phaolô và thư của Thánh Giacôbê nhấn mạnh đến việc loan báo Chúa Giêsu sẽ trở lại lần thứ hai. Về các bài Tin mừng thì Chúa nhật I nhắc lại lời kêu gọi “hãy tỉnh thức” của Chúa Giêsu. Chúa nhật II và III dành cho Gioan Tiền hô với lời kêu gọi dọn đường cho Chúa ngự đến và hướng về chính Đức Giêsu Kitô. Chúa nhật IV là Chúa nhật truyền tin cho Thánh Giuse.
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1. Bài đọc I : Is 2,1-5
Giêrusalem mới
Trong một thị kiến huy hoàng, Tiên tri Isaia chiêm ngắm Thành Giêrusalem của Thiên Chúa vào ngày mà muôn dân tộc tuôn đổ về để vui hưởng hòa bình trong Thiên Chúa.
a. Bản văn này chắc chắn được viết sau khi Giêrusalem sụp đổ do bị quân đội của Nabuchodonosor, Vua Babylon chiếm đóng và tàn phá.
b. Tiên tri Isaia đã nhận thấy từ xa một ngày của Đức Chúa, nơi thành thánh, sự hồi sinh từ trong đổ nát ; mọi dân tộc trên mặt đất sẽ qui tụ tại đây để giao hòa với nhau. Giêrusalem sẽ trở nên Thành đô của Thiên Chúa, kinh đô của hòa bình.
c. Giêrusalem lý tưởng, trung tâm tôn giáo của nhân loại, chính là Giáo hội hôm nay. Giáo hội được Chúa Giêsu thiết lập sẽ là nơi chiếu tỏa ánh sáng hòa bình công lý và tình yêu của Thiên Chúa, để qui tụ mọi dân nước thành Dân của Ngài.
2. Bài đọc II :
Ơn Cứu độ đã gần kề
Thánh Phaolô đã viết thư gửi giáo đoàn Rôma báo cho họ biết không được mê ngủ nữa phải tỉnh thức vì thời gian cứu độ đã gần kề, Ngày của Chúa đã đến gần, đừng đánh mất thời gian của mình.
a. Thánh Phaolô nói với những người đã trưởng thành, đã có đức tin phải biết thay đổi nếp sống so với lúc mới tin đạo.
b. Ngài khuyên dạy những người đã đón nhận ánh sáng Tin mừng đừng để bản thân chìm ngập trong bóng tối của tà giáo ; của lối sống vô luân.
c. Lời dạy của Thánh Phaolô nhắc nhở mỗi Kitô hữu chúng ta ngày nay phải biết tỉnh thức chờ đợi Đức Kitô đến bằng một đời sống đạo hạnh. Không mê ngủ trong tội lỗi, trong đam mê dục vọng xác thịt.
3. Tin mừng :
Tỉnh thức trong sự chờ đón Đấng Cứu Thế
Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết rằng Người sẽ đến cách bất ngờ. Cần phải tỉnh thức để chuẩn bị cách tích cực đón chờ ngày Người đến, để khỏi phải ngạc nhiên.
a. Bản văn Tin mừng hôm nay được trích từ diễn từ về ngày cách chung, ở phần đầu (Mt 24,1-36), Chúa Giêsu nhấn mạnh Con Người chắc chắn sẽ đến. Nhưng cách thế và thời điểm mà Người đến thật là bất ngờ. Việc đối chiếu với lụt đại hồng thủy thời Noe nhấn mạnh tới yếu tố của việc đến bất ngờ và những hiểm họa của việc không hiểu biết gì về những đe dọa đang xảy đến. Khi ấy mọi toan tính không còn ý nghĩa gì nữa mà ngay từ bây giờ phải biết chuẩn bị.
b. Ngày Chúa Giêsu đến vừa là ngày Quang lâm của Người cũng vừa là ngày phán xét nhân loại. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh hai người ngoài đồng, hai người đàn bà cùng xay bột để nói đến tình trạng phán xử cuối cùng của nhân loại. Người ở lại người được cất đi. Bên ngoài mọi người có vẻ giống nhau, cùng sống cùng làm việc, nhưng giờ ấy mới thấy rõ có sự tách biệt, người được cứu còn người thì không. Sự khác biệt ấy hệ tại ở chính đời sống luân lý của mỗi người, hệ tại ở đức tin của mỗi người.
c. Chúa Giêsu cho thấy con người không thể biết đâu là ngày giờ tận cùng của nhân loại cũng như của mỗi người. Do đó, mỗi người phải biết chuẩn bị cho ngày ấy, đó là thái độ tỉnh thức mà Người mời gọi. Vấn đề không phải là khi nào, lúc nào ngày ấy sẽ đến mà vấn đề là con người đón chờ ngày ấy như thế nào.
II. GỢI Ý BÀI GIẢNG
1. Tỉnh thức và sẵn sàng, một việc cần phải làm ngay :
Ngày của Chúa đến thật là bất ngờ, thình lình khiến trở tay không kịp. Như thời ông Noe, bất thình lình đại hồng thủy ập xuống ; hai người cùng làm nhưng bất ngờ một người được cứu còn người khác thì không. Những hình ảnh Chúa Giêsu nêu ra này cho thấy tính khẩn thiết của việc tỉnh thức, sẵn sàng cho Ngày của Chúa. Không thể khoan giãn lần lựa được mà phải làm ngay. Các con hãy sẵn sàng, chính vào giờ các con không ngờ Con Người sẽ đến. Lời Chúa Giêsu không phải là một lời hù doạ, nhưng là một lời cảnh báo trước, một lời báo động. Tai ương treo trên đầu mỗi người và sẽ rơi xuống lúc nào không hay. Khi đó, mọi toan tính thì đã quá muộn. Cho nên, phải làm ngay, phải chuẩn bị từ bây giờ. Ngày giờ Chúa đến càng bí ẩn bao nhiêu thì việc tỉnh thức sẵn sàng càng khẩn thiết bấy nhiêu.
Lời Chúa Giêsu quả quyết không biết đâu là ngày giờ tận cùng mách bảo chúng ta mỗi Kitô hữu đừng giả định phỏng đoán ngày nào, lúc nào nhưng thay vào đó hãy lo chuẩn bị. Hãy tỉnh thức và sẵn sàng trong sự giả định ngày ấy đã gần kề.
2. Chúa đến bất ngờ, con người không biết nhưng biết chuẩn bị đón Chúa :
Ngày giờ tận cùng, ngày Chúa đến là bí mật của Chúa Cha. Tuy nhiên, một cám dỗ cố hữu nơi lý trí con người là mong muốn biết ngày giờ ấy và ngày ấy sẽ xảy ra như thế nào. Trong lịch sử loài người đã không ít lần chứng kiến những phỏng đoán về ngày tận thế, nhưng tất cả đều sai lầm. Con người không thể biết được. Thực ra Lời Chúa cho chúng ta thấy, ngày ấy chắc chắn sẽ đến. Vấn đề không phải ở việc biết đến lúc nào và như thế nào. Vấn đề quan trọng là biết trước có ngày đó thì phải lo chuẩn bị. Người ta không học được chữ ‘ngờ’ nhưng phải học được chữ ‘phòng’. Đã không biết được ngày giờ nhưng biết sẽ có ngày ấy thế thì chuyện quan trọng và cần thiết là chuẩn bị. Chúa Giêsu không nói gì nhiều chỉ kêu gọi vắn tắt nhưng rõ ràng : Hãy tỉnh thức, hãy sẵn sàng.
Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta ý thức thế nào và chuẩn bị ra sao cho ngày Chúa đến. Ngày ấy có thể là ngày chết của mỗi cá nhân, cũng có thể là ngày chung thẩm của cả nhân loại. Chuẩn bị cho giờ chết của mình cũng là chuẩn bị cho ngày cánh chung.
3. Tỉnh thức là thái độ của nội tâm :
Hai người cùng làm việc chung nhưng một người được cứu, một người không. Nhìn vào dáng vẻ, công việc và cuộc sống bên ngoài không có gì phân biệt giữa hai người, giữa hai người nông dân đang làm việc ngoài đồng hay hai người đàn bà đang cùng ngồi xay một cối. Thế nhưng, trước mặt Thiên Chúa lại có sự phân biệt, có sự khác biệt giữa họ. Đó là thái độ nội tâm. Người thì gắn bó với Chúa trong công việc, người thì không. Người thì tỉnh thức còn người mê ngủ… Thái độ nội tâm này làm cho công việc và cuộc sống của con người khác nhau trước mặt Thiên Chúa và cũng đưa tới một kết cục khác nhau hoàn toàn trong ngày của Chúa. Thái độ nội tâm ấy là thái độ của người tin tưởng vào Chúa. Sự tỉnh thức khởi đi từ chính một tâm hồn luôn gắn bó với Chúa, biết đón chờ Ngài. Chính nhờ đời sống nội tâm như thế, mọi công việc, sinh hoạt và trọn vẹn cuộc sống là cả một sự chuẩn bị, cả một sự tỉnh thức.
Lời kêu gọi hãy tỉnh thức ; hãy sẵn sàng phải vang dội từ trong tâm khảm của mỗi Kitô hữu. Lời đó phải thấm nhuần trọn vẹn con người và chi phối mọi thực tại cuộc sống. Càng gắn bó với Chúa, càng biết chuẩn bị. Càng có đời sống nội tâm sâu sắc càng biết tỉnh thức.
(Dẫn vào Phụng vụ Thánh thể :
Để có sự kết hợp mật thiết nhất với Chúa Giêsu chúng ta có một phương thế bảo đảm đó là Bí tích Thánh thể. Mình Máu Thánh Chúa Giêsu vừa là một bảo chứng cho chúng ta trong ngày sau hết, vừa là của ăn giúp chúng ta có sức để lo liệu và lên đường đón chờ ngày Chúa đến.
III. LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
Mở đầu : Anh chị em thân mến, vì yêu thương chúng ta, Chúa Giêsu sẽ đến đón chúng ta chung hưởng hạnh phúc với Người trong ngày Người ngự đến vinh quang. Trong tâm tình hy vọng, chúng ta cùng dâng lên Chúa những lời cầu xin :
1. Hội thánh tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu không ngừng vang lên lời mời gọi con cái mình và toàn thế giới hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Chúng ta cùng cầu nguyện cho sứ điệp Tin mừng mà Hội thánh loan báo được mọi người đón nhận và thực thi.
2. Ngày nay biết bao người đang lầm đường lạc lối, ngủ mê trong tệ nạn, trong tội lỗi và trong lối sống vô luân. Chúng ta cùng cầu nguyện cho có nhiều người thành tâm thiện chí, quảng đại dấn thân trong việc giúp đỡ, hướng dẫn và nâng đỡ những người sa ngã lầm lạc trở về.
3. Hãy tỉnh thức và sẵn sàng vì vào giờ các con không ngờ thì Con Người sẽ đến. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết tình thức bằng đời sống gắn bó với Chúa, chu toàn trách nhiệm được trao phó với tất cả lương tâm Công giáo.
Lời kết : Lạy Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót. Xin ban Thánh Thần của Chúa hướng dẫn chúng con biết sống đúng lời Chúa Giêsu dạy tỉnh thức hân hoan đón chờ ngày Người đến trong vinh quang. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
SONG MUA VONG
SỐNG MÙA VỌNG
Đang khi những người Thiên Chúa giáo cử hành Mùa Vọng, thì những tín đồ Hồi giáo sống trọng thể những ngày chay thánh. Những ngày này kéo dài một tháng. Năm nay, tháng này khởi sự từ ngày 17 tháng 11 và kết thúc ngày 16 tháng 12. Tháng này gọi là Ramadan.
Tháng Ramadan nhắm vào việc hy sinh và thanh luyện con người. Các tín đồ không ăn gì từ lúc mặt trời mọc tới khi mặt trời lặn.
Tháng Ramadan cũng là những ngày chia sẻ, yêu thương và bình an. Ai cũng buộc bỏ ra hơn 2 phần trăm thu nhập của mình để tặng cho người nghèo, bất luận họ thuộc sắc tộc nào, tôn giáo nào.
Trong tháng Ramadan người tín hữu Hồi giáo tìm dịp đến với người khác và đón tiếp người khác, để xây dựng tình liên đới huynh đệ. Trong ý hướng đó, các bữa tối thường là dịp gặp gỡ thân tình. Nhiều người được mời đến cùng tham dự, cùng chia vui.
Trong Mùa Vọng của người Thiên Chúa giáo, những tín đồ Do Thái giáo cũng có một tuần lễ tôn giáo được tổ chức trong các gia đình. Tuần lễ này gọi là Hanouka. Từ ngày 10 đến ngày 17 tháng 12.
Tuần lễ Hanouka được thiết lập nên vì hai lý do. Một là để nhớ lại chiến thắng quân sự của ông Giuđa Macabê. Hai là để nhớ lại phép lạ chút dầu còn lại trong đền thờ xưa.
Chút dầu này chỉ đủ thắp đèn trong một ngày, nhưng đã cháy đủ tám ngày, cho tới khi làm được dầu mới. Đó là phép lạ về lòng cậy trông. Từ một chút việc lành rất nhỏ, Chúa sẽ làm nên những kỳ công to tát.
Trong tuần lễ Hanouka, các gia đình họp nhau lại ban tối. Trên bàn thờ gia đình có đặt chân nến tám ngọn. Tối thứ nhất thắp lên một ngọn. Tối thứ hai thắp thêm ngọn thứ hai. Và cứ thêm lên như thế các tối sau.
Trong ánh sáng của nến cháy, mọi người hoan hỉ hát thánh ca. Họ tạ ơn Chúa và hy vọng vào quyền năng và lòng thương xót Chúa. Chúa sẽ cứu dân Người.
Tháng Ramadan của Hồi giáo và tuần lễ Hanouka của Do Thái giáo không chủ ý chuẩn bị cho lễ Noel, nhưng trùng hợp với Mùa Vọng của Thiên Chúa giáo, chuẩn bị cho lễ Chúa Giáng sinh.
Còn chúng ta, những người công giáo, chúng ta sống Mùa Vọng theo phụng vụ. Phụng vụ Mùa Vọng rất phong phú, dồi dào những hướng dẫn và gợi ý. Tuy vậy, chúng ta cũng được phép nhìn sang tháng Ramadan của Hồi giáo và tuần lễ Hanouka của Do Thái giáo, để có những sáng kiến. Không thiếu nơi đã làm như vậy.
Ở đây, tôi chỉ xin nói tới một sáng kiến, mà có nơi đã thực hiện. Sáng kiến đó là sống Mùa Vọng bằng cách tập trung vào một câu trong kinh Tin Kính: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần” (Người đã nhập thể trong lòng trinh nữ Maria). Câu này trích từ Kinh Thánh: “Vì người con bà sinh ra là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà” (Lc 1,35).
Câu: “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần” gợi ý cho chúng ta, trong Mùa Vọng, hãy tăng cường hơn việc thanh luyện mình khỏi những khuynh hướng xấu. Chúng thường kháng cự lại việc chúng ta tham dự vào ơn được làm con Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần. Trong thư gửi giáo đoàn Galata, thánh Phaolô kể ra những khuynh hướng xấu đó. Ngài coi những khuynh hướng đó là do tính xác thịt gây ra. Ngài viết: “Những việc do tính xác thịt gây nên thì ai cũng rõ, đó là dâm dục, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: Những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Ga 5,19-21).
Để có sự tự do thực của người con Chúa, chúng ta phải phấn đấu với những tính xấu đó. Phấn đấu bằng cách tăng cường sự thanh luyện mình, nhờ hồi tâm, ép xác, cầu nguyện, tránh mọi việc làm, lời nói, tư tưởng do các tính xấu đó thúc đẩy.
Hơn nữa, câu “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần” còn gợi ý cho chúng ta, trong Mùa Vọng, hãy tăng cường hơn việc chăm sóc những hạt giống tốt, mà Chúa Thánh Thần gieo vào lòng ta. Cũng trong thư gởi giáo đoàn Galata, thánh Phaolô đã viết về những hạt giống đó: “Còn hoa quả của Chúa Thánh Thần là bái ác, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. Những ai thuộc về Đức Giêsu Kitô thì đã đóng đinh xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Chúa Thánh Thần, thì chúng ta hãy nhờ Chúa Thánh Thần mà tiến bước. Chúng ta đừng có tìm hư danh, đừng khiêu khích nhau, đừng ganh tỵ nhau” (Gl 5,22-26).
Chúng ta chăm sóc những hạt giống tốt trong lòng chúng ta bằng các việc lành nhỏ hằng ngày. Nếu mỗi ngày chỉ thắp lên một ngọn đèn, dù nhỏ bé thôi, thì đời ta sẽ trở thành chuỗi dài những hy vọng. Và như thế, chúng ta sẽ góp phần vào chương trình cứu độ, mà Chúa sẽ thực hiện, khi giáng sinh làm người.
Phần, mà chúng ta góp vào sẽ là chính con người của chúng ta. Một con người đầy hy vọng và đầy tình yêu, dù gặp phải gian truân khốn khó: “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
Phần, mà chúng ta góp vào, cũng sẽ là chính con người của chúng ta. Một con người tự do, bởi vì chúng ta sống trong Chúa Thánh Thần: “Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do” (2Cor 3,17). Tự do mở về hướng Thiên Chúa. Tự do mở về hướng tha nhân. Trong bác ái khiêm tốn chấp nhận quên mình.
Gần tôi có một phụ nữ Phật giáo. Vì một lỗi lầm vô tình trong quá khứ. Để đền tội, chị đã đón một bà lão ăn mày về nhà để nuôi. Bà lão này nổi tiếng là khó tính khó nết. Chị phụ nữ Phật giáo này chăm sóc phụng dưỡng bà già trong nhà mình với tất cả tình thương và kính trọng. Nhiều năm trôi qua, lúc bà già gần chết, bà tỏ mình là người công giáo. Bà xin chị phụ nữ Phật giáo đi tìm cho bà một linh mục, để giúp bà về với Chúa. Chị phụ nữ Phật giáo đã làm hết sức, để bà được toại nguyện. Bà qua đời, được an táng đàng hoàng. Hằng năm, ngày giỗ, chị Phật giáo vẫn đến linh mục xin lễ cho bà.
Hiện nay, chị Phật giáo này lại đón một người đàn bà khùng khùng mát mát về nhà nuôi. Bà này cũng được chăm sóc như một người thân thương. Hằng ngày chị còn làm nhiều việc từ thiện khác. Tất cả những công việc từ thiện chị làm đều rất âm thầm. Thiết nghĩ chị phụ nữ Phật giáo này đáng được coi là một chứng nhân sống động, thấy được và đáng tin về việc Chúa Thánh Thần đang thực hiện âm thầm trong các tâm hồn, bất luận họ là ai.
Đây cũng là một gợi ý và là một thách đố về Mùa Vọng Chúa gởi đến cho chúng ta.
Thứ Ba, 27 tháng 11, 2007
CHUA NHAT 34 CHUA KITO VUA
Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua
Ðức Giêsu Làm Vua Trên Thánh Giá
(2 Samuel 5,1-3; Thư Colosê 1,12-30; Tin Mừng Luca 23,35-43)
Phúc Âm: Lc 23, 35-43
"Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu mà rằng: "Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Ðấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn". Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi". Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: "Người Này Là Vua Dân Do Thái".
Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: "Nếu ông là Ðấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa". Ðối lại, tên kia mắng nó rằng: "Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?" Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi". Chúa Giêsu đáp: "Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta".
Suy Niệm:
Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua
2 Samuel 5,1-3; Thư Colosê 1,12-30; Tin Mừng Luca 23,35-43
Hôm nay, Chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua. Giáo hội muốn mừng trước lễ sẽ diễn ra và được cử hành cực kỳ long trọng vào lúc thời gian tận cùng khi mà Chúa Kitô sẽ trở lại trong vinh quang thâu hồi tất cả tạo vật được cứu độ đưa vào trong hạnh phúc trường sinh. Hơn nữa, Giáo hội muốn đặt ngày trọng đại ấy trở nên ngọn Hải đăng chói sáng hướng dẫn con thuyền Hội Thánh vượt biển trần gian mà không bao giờ lạc hướng... Nói cách khác Giáo hội ao ước càng tiến xa trên đường đời chúng ta càng nhìn thấy ảnh hưởng và uy quyền của Chúa Kitô càng ngày càng tỏ hiện cả chiều rộng và chiều sâu. Muốn như vậy chúng ta phải hiểu rõ tước hiệu làm Vua và thực quyền thống trị của Chúa Kitô là gì, để do đó chúng ta biết sống ở trong Nước Người và làm cho Nước Người luôn lan rộng thêm.
1. Ðavít, Hình Ảnh Báo Trước Về Chúa Kitô Vua
Bài sách Samuel nhắc lại chuyện Ðavít đã trở thành vua Israel như thế nào. Nó cho chúng ta biết nguồn gốc Vương Quyền của Chúa Kitô vì chính Người vẫn được dân Cựu ước chờ đợi như là Con Vua Ðavít sẽ đến trị vì trên Dân Chúa.
Vậy Ðavít bấy giờ mới chỉ là vua xứ Giuđa. Các chi tộc Israel ở phía Bắc vẫn chưa công nhận Vương Quyền của ông. Họ còn lưu luyến nhà Saulê. Nhưng hai cuộc ám sát xảy ra đã khiến họ đổi ý... Ishbaal con của Saulê bị sát hại sau khi vị tướng của Israel là Abner bị giết. Ðầu mục các chi tộc kia liền đến Hêbron yết kiến Ðavít và xin qui phục vương quyền của ông. Chúng ta hãy lưu ý những lý lẽ họ đã đưa ra:
+ Ngài (tức là Ðavít) cũng là cốt nhục với chúng tôi.
+ Ngài đã từng là tướng triều Saulê, Vua nước chúng tôi.
+ Ngài đã được Thiên Chúa chọn để chăn dắt và lãnh đạo dân Người.
Ðó không phải là lời lẽ của những người đầu hàng; nhưng là những lời có tính toán và đặt điều kiện. Nói đúng hơn, những lời này cho thấy các đòi hỏi tiên quyết nơi một vị Vua của Israel... Ông phải có cốt nhục với đồng bào của ông; ông đã phải vào sinh ra tử cho Ðất nước của ông; và nhất là ông phải được Thiên Chúa chọn; vì làm vua nơi dân Chúa không phải như nơi các dân tộc của những quốc gia khác, nói đến Vua Chúa là phải nghĩ ngay đến cai trị và lãnh đạo. Còn nơi Israel, làm vua trước hết là chăn dắt dân như mục tử và phải hiểu việc lãnh đạo ở đây theo cung cách của kẻ chăn chiên.
Ðavít hội đủ những điều kiện ấy. Ông là cốt nhục với Israel. Ông đã vào sinh ra tử khi còn ở triều đình Saulê để chống quân Philitinh. Và ông đã được xức dầu là chứng Thiên Chúa đã chọn ông và ông đã nhận được thần trí của Thiên Chúa... Người ta không sợ ông sẽ dùng quyền cai trị như các bạo chúa thời xưa. Bản thân ông đã là mục tử. Dáng điệu của ông hiền lành khiêm nhu. Mọi nơi đều ca ngợi lòng quảng đại của ông ngay đối với cả địch thù.
Ðavít hiểu ý các đầu mục Israel. Ông chấp nhận ý kiến của họ và ông ký kết với họ một giao ước ở Hêbron, trước nhan Thiên Chúa. Và họ đã xức dầu tấn phong ông làm vua các chi tộc ở phía Nam.
Chúng ta có thể thắc mắc vì sao có thể xức dầu cho Vua mình được. Nhưng xức dầu ở đây chỉ là nghi thức công nhận quyền làm Vua của vị đã được xức dầu. Chính lần được xức dầu do "Người của Thiên Chúa", tức là do vị tiên tri của Người mới đáng kể. Và Ðavít đã được Samuel xức dầu ân sủng đó khi Thiên Chúa đã quyết định từ bỏ Saulê. Kể từ ngày đó Ðavít đã là Người Chúa chọn và đã mang thần trí của Người. Hôm nay các đầu mục Israel làm lại nghi thức xức dầu không phải để ban ân sủng cho Ðavít nhưng để công nhận ân sủng đã có sẵn ở nơi ông. Và tất cả những điều này đều có ý nghĩa để nói về Chúa Kitô Vua. Người đã được Thiên Chúa xức dầu Thánh Thần... nhưng có thể nói, một cách mầu nhiệm quá như trường hợp của Ðavít tại nhà ông, trong vòng thân mật và kín đáo, lúc ông còn nhỏ tuổi. Và cũng như Ðavít phải vào sinh ra tử cho dân trước khi được dân công nhận, thì Ðức Kitô cũng phải đi qua khổ nạn mới đạt tới vinh quang.
Ở đây chúng ta không thấy nói rõ Ðavít đã kết ước với Israel như thế nào. Nhưng theo ý dân đã biểu lộ trong dịp xức dầu đặt Saulê làm Vua (1S. 8,10-17), các đầu mục Israel hẳn đã nhấn mạnh đến việc Ðavít phải xuất chinh đi trước và giao chiến các cuộc chiến của họ. Cũng như theo những sự việc xảy ra sau này, dường như họ chỉ công nhận vương quyền của Ðavít nhưng chưa muốn sát nhập với Giuđa và cũng chẳng hứa sẽ tùng phục người kế vị Ðavít. Tức là họ chỉ công nhận Ðavít là Vua của họ khi Ðavít hứa luôn xuất chinh đi trước họ.
Những điều này cũng vậy sẽ cho chúng ta nhiều yếu tố để tìm hiểu vương quyền của Chúa Kitô. Có thể nói vương quốc của Người chỉ có ở nơi Người. Cũng như vương quốc của Ðavít chỉ có ở nơi Ðavít vì Israel và Giuđa một phần nào vẫn chưa muốn hoàn toàn là một Nước như ở nơi chúng ta còn quá nhiều yếu tố cách biệt và chia rẽ. Và vương quyền mà Israel công nhận nơi Ðavít, họ không sẵn sàng công nhận nơi người kế vị thành ra đó là vương quyền không chia sẻ và truyền ngôi. Ðiều này cũng cho thấy trước tính cách bất khả chia sẻ của vương quyền nơi Chúa Kitô. Nhưng điều chú ý nhất trong giao ước ký kết giữa Ðavít và Israel là buổi lễ được đặt trước nhan Thiên Chúa, để công nhận việc giữa loài người với nhau chỉ có giá trị nếu Thiên Chúa đảm bảo. Chính Người là cánh tay xây dựng mọi công trình tốt đẹp của loài người, và nếu Người không xây thì công việc của các tay thợ nề đều vô ích và luống công. Nước của Chúa Kitô Vua cũng vậy. Ðó là công trình của Thiên Chúa và hoàn toàn lệ thuộc Người; nên không thể lấy các quan niệm về những vương quốc thế gian mà hiểu. Chúng ta phải có những quan niệm của Thiên Chúa để hiểu về Nước Chúa Kitô. Và vì thế chúng ta không sợ nói đến tước hiệu Vua Kitô ở bất cứ hoàn cảnh nào vì Nước của Người không thuộc về thế gian này nên không được hiểu theo lẽ thế gian.
Dù sao bài sách Samuel hôm nay cũng đã cho chúng ta thấy một trường hợp làm vua rất đặc biệt. Câu chuyện Ðavít được công nhận làm Vua có nhiều yếu tố giúp chúng ta hiểu trường hợp làm Vua của Chúa Kitô. Ông Vua mục tử Ðavít đầy nhân ái và đạo đức đã là hình ảnh báo trước về Vua Thiên Sai sẽ đến cứu dân và xây hạnh phúc cho dân Chúa. Cả hai đã được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng vương quyền của cả hai đều phải vào sinh ra tử cho dân mới được dân công nhận. Không phải rồi sau đó cả hai vương quyền đều đã trị vì trên dân theo kiểu các quyền bính thế gian, nhưng vai trò của các người là bảo hộ bênh vực để dân Chúa được bình an và hạnh phúc. Vương quyền ấy là quan hệ giữa người với người hơn là biểu thị thành thể chế có thể nhìn thấy được vì Nước của Ðavít cũng chỉ rõ ràng ở nơi ông mà thôi.
Chúng ta ghi nhận những tư tưởng này để xem Ðức Kitô đã thể hiện hình ảnh báo trước về vương quốc của Người như thế nào?
2. Ðức Giêsu Làm Vua Trên Thánh Giá
Ai cũng biết suốt đời Ðức Giêsu chẳng có vẻ gì là một ông Vua. Người còn nhất mực từ chối mỗi khi dân chúng có ý tưởng tôn Người làm Vua. Nhưng bỗng dưng Người có một thay đổi bất ngờ. Hôm vào Giêrusalem, Người muốn tỏ ra mình là một ông vua thái hòa. Người cỡi lừa, ung dung để cho người ta lấy lá, lấy áo lót đường cho Người đi, và Người chấp nhận để cho người ta tung hô mình là Con Vua Ðavít, vua của Israel.
Nhưng trong cuộc rước ấy, Người vẫn âm thầm. Và Người cũng không có một cử chỉ hoàng đế nào trong dịp nô nức ấy. Thế rồi Người bị nộp, bị trói, bị đánh, bị điệu ra trước tòa. Chính ở đây và từ đây Người mới có thái độ làm vua.
Chúng ta hãy hạn chế tư tưởng trong khuôn khổ bài Tin Mừng hôm nay. Có quá nhiều yếu tố để chúng ta còn phải đi tham khảo ở những nơi khác trong Kinh Thánh.
Ðức Giêsu bấy giờ đã bị đóng đinh trên thập giá ở giữa hai tên gian phi. Như để cho người ta thấy Người không phải như hai kẻ kia, tác giả Luca lập tức đã viết rằng: "Bấy giờ Ðức Giêsu nói: Lạy Cha xin tha thứ cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm". Lời nói này khẳng định vị trí của Ðức Giêsu không những ở giữa hai tên gian phi, mà còn ở giữa tất cả mọi người. Cả nhân loại là tội nhân, duy mình Người là Ðấng Công Chính có khả năng cầu xin ơn tha tội cho mọi người hết thảy.
Xếp đặt vị trí xong, tác giả Luca lần lượt cho chúng ta thấy thái độ của mọi hạng người... Trước hết có dân. Họ đứng nhìn. Luca có cảm tình với họ. Ông không coi họ là đám dân chúng đã la ó xin đóng đinh Ðức Giêsu. Ông gọi họ là dân để tỏ ý coi họ như dân Chúa, dân mà Chúa muốn cứu vớt và tha thứ tội. Họ đứng nhìn để xem công việc của Thiên Chúa. Họ thấy gì?
Các đầu mục thì nhạo báng mà rằng: nó đã cứu những ai khác, thì nó hãy cứu lấy mình nếu nó là Ðức Kitô của Thiên Chúa, Ðấng đã được chọn. Họ tỏ ra thông thái, nhưng thật ra sự thông thái này lại lên án họ vì đó là sự thông thái mù tối. Họ biết Ðức Giêsu đã cứu chữa nhiều người.
Ðó là dấu sức mạnh của Thiên Chúa đậu ở nơi Người. Người thật là Ðấng Kitô, là vị được Thiên Chúa chọn. Lẽ ra họ phải bắt chước các đầu mục Israel ngày xưa khi biết Thiên Chúa đã chọn Ðavít thì đến công nhận vương quyền của ông. Ðàng này họ chưa coi việc Ðức Giêsu cứu vớt những người khác là dấu hiệu chắc chắn. Họ muốn Người cứu chính mình nữa và coi hành vi này mới có giá trị quyết định. Họ đúng là kẻ thông thái mù quáng, khôn ngoan theo lẽ thế gian xét mọi việc không ở dưới khía cạnh bác ái và cứu thế nhưng theo mức độ ích kỷ và vinh thân. Vì hẹp hòi và xấu bụng, họ không ngờ đã muốn cho vị hoàng đế của dân Chúa cũng phải như họ là ích kỷ và trước hết phải lo cho bản thân mình. Họ không xứng đáng với Ðức Giêsu.
Hạng người thứ ba cũng giống như họ. Ðó là lính tráng, những người Rôma đến cai trị Do Thái. Họ tiêu biểu cho lương dân ở dưới chân thập giá Ðức Giêsu. Họ không thể có suy nghĩ cao thượng hơn các đầu mục Do Thái. Họ muốn rằng: nếu là vua Do Thái, thì Người phải cứu lấy mình. Tâm tư của hai hạng người trên, của cả Do Thái lẫn lương dân, được phụ họa đúc kết và vọng lên một cách mãnh liệt trong lời mắng nhiếc của một trong hai kẻ gian phi: "Phải chăng mày là Kitô, hãy cứu lấy mình và chúng ta với".
Ðó là lời thách thức ghê tởm. Nó bộc lộ luận lý khôn ngoan của loài người tội lỗi. Phải nghĩ đến mình trước rồi mới đến người khác. Còn đâu ý nghĩa phục vụ? Câu "mục tử tốt thí mạng vì đàn chiên" còn ý nghĩa nào nữa? Và những câu như: "Ai tìm sự sống mình thì sẽ mất" bây giờ ở đâu? Người ta chưa hiểu Ðức Giêsu. Người ta quên hình ảnh Vua Ðavít chịu oan uổng trong đền vua Saulê. Người ta không nhớ các lời tiên tri nói về Người Tôi Tớ đau khổ sẽ thống trị. Bao nhiêu lời Kinh Thánh báo trước về vua thiên sai, vua hòa bình, vua cứu thế dường như đã vô ích hoàn toàn.
Không, tiếng nói của kẻ tội lỗi to thật, dữ thật, nhưng không phải là tiếng nói cuối cùng. Kẻ gian phi bị treo ở phía bên kia đã lên tiếng: "Mày không kính sợ Thiên Chúa sao, ngay lúc mày cũng mắc đồng một án?" Nghĩa là đây là lúc để nhớ đến Thiên Chúa và kính sợ Người, lúc người ta gặp hoạn nạn, đau thương và nhất là sắp chết. Không được lăng mạ, lộng ngôn hay nói lời nào hư hốt nữa. Phải có tình liên đới, phải biết nhận lỗi mình và cầu xin ơn tha thứ. Thế nên, người ấy đã nói tiếp: chúng ta đáng tội, nhưng, Người không hề làm điều gì trái.
Vì sau người ấy đã nói được như vậy? Vì đã có giờ quan sát Người trên đường thập giá hay vì từ nãy đến giờ đã nghe lời những hạng người kia. Họ trách mắng Người, nhưng bao giờ cũng để hở ra những tư tưởng thật đáng suy nghĩ. Tất cả đều đã mở miệng bằng những câu: nếu là Kitô, nếu là Ðấng Thiên Chúa chọn, nếu là vua Do Thái..., vì sao lại nghi vấn như thế? Và hết thảy đều đã tha thiết muốn thấy ơn cứu độ, nên đã nói: hãy cứu lấy mình, hãy cứu lấy chúng ta nữa.
Chúng ta không dám quyết người kia đã có thể suy nghĩ như vậy để có thể làm một bước "liều" mà đa số những người kia chưa gần sự chết và chưa thấy khẩn trương cầu ơn cứu độ nên đã không làm được. Còn người này, giống như Pascal nói, có liều cũng chỉ có lợi chứ không thiệt gì. Nên y đã liều tin Ðức Giêsu là công chính và đã diễn tả niềm tin dấn thân ấy trong câu: Lạy Ðức Giêsu, xin nhớ đến tôi khi Ngài đến trong Nước của Ngài: Y trông cậy sự bảo hộ, chiếu cố của Người một cách thật cảm động và thành khẩn. Và Ðức Giêsu đã nói với người ấy: "Quả thật, Ta bảo ngươi: hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta".
Ðây không phải là lời lẽ của chính Thiên Chúa ư? Ðã bao lần trong cuộc sống, khi lấy uy tín của Thiên Chúa để giảng dạy, Ðức Giêsu đã bắt đầu tuyên bố bằng câu: "Quả thật, Ta bảo các ngươi". Người tuyên bố bình thản, chắc chắn. Người nói là làm, nên mới có chữ: "hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta". Người dùng kiểu nói: "ở trên thiên đàng làm một với Người" để đáp lại lời xin được Người nhớ đến khi Người đến trong Nước của Người, khiến chúng ta thấy lòng quảng đại của Người vượt quá lời xin của Người kia. Anh ta chỉ xin Người nhớ đến anh; nhưng Người đã cho anh ở làm một với Người. Anh chẳng hiểu rõ Nước của Người là gì; nhưng Người đã cho anh biết đó là thiên đàng nơi người công chính được hưởng hạnh phúc của Thiên Chúa.
Vậy, Ðức Giêsu thật là vua. Người làm vua trên thánh giá, tức là trong hành vi trở thành của lễ đền tội mọi người. Ai không bỏ mình mà tin Người thì không được cứu độ. Còn ai kính sợ Thiên Chúa mà tin thì được đưa vào Nước của Người. Người thực hiện các lời tiên tri về vua thiên sai, vua hòa bình, vua cứu thế quá sự chờ mong của mọi người, vì trên thánh giá, không những Người là Vua mục tử hơn Ðavít mà còn là Người Tôi Tớ đau thương của Thiên Chúa sẽ thống trị địa cầu.
Tuy nhiên thành thật mà nói bài Tin Mừng của Luca chưa nói hết mọi khía cạnh về việc Chúa Kitô làm vua đâu. Còn một khía cạnh rất quan trọng phải đi đôi với khía cạnh cứu chuộc mà Luca chưa nói và không có điều kiện để nói ở đoạn văn này... Bài thư Phaolô hôm nay bổ khuyết cho chúng ta.
3. Ðức Giêsu Là Ðệ Nhất Vô Song
Phần lớn đây là một khúc trong ca vãn về Chúa Kitô. Phaolô viết gởi giáo dân Colôsê đang bị dao động về đức tin. Có nhiều người đến nói với họ rằng: Chúa Kitô không phải là đệ nhất vô song đâu? Còn có các thiên phủ, ông sao này, ông sao kia; và còn có nhiều bậc tiên tri và giáo chủ khác. Phaolô nói với giáo dân Colôsê, đừng tin những chuyện nhảm nhí ấy; và hãy tạ ơn Thiên Chúa đã kéo chúng ta ra khỏi quyền lực tối tăm và chuyển chúng ta vào Nước của Con chí ái Người. Rồi Phaolô làm chứng Ðức Kitô là vua vì vừa sáng tạo vừa cứu chuộc.
Chúng ta không cần nhấn mạnh lý lẽ sau vì hai bài Kinh Thánh trên đã cho thấy Ðức Giêsu là vua trong mầu nhiệm cứu thế, gỡ dân ra khỏi tội lỗi. Ở đây chúng ta chỉ cần nhớ: Phaolô chú ý đến việc phục sinh. Chính mầu nhiệm sống lại đã làm Ðức Giêsu trở thành trưởng tử giữa các vong nhân để ai theo Người và nhận sự lãnh đạo của Người và sẽ được Người cho khỏi chết trong tội lỗi mà được sống lại trong ân sủng.
Nhưng ở đây chúng ta phải để ý nhất là đến địa vị của Ðức Giêsu là trưởng tử giữa mọi thụ sinh. Thực tế Người đã không sinh ra trước hết mọi loài đâu. Người là con vua Ðavít mà! Nhưng tuy đã không sinh ra trước hết, Người vẫn là trưởng tử giữa mọi thụ sinh, vì mọi sự đều được tạo thành nhờ Người và cho Người. Không những Người là lý do để Thiên Chúa dựng nên tất cả, như Thiên Chúa đã dựng nên vạn vật vì con người, và con người Adong cũng chỉ là hình ảnh của con người Giêsu Kitô; nhưng hơn nữa chính trong Người mà vạn vật được tác thành, dù là thiên tòa, thiên phủ... Như vậy tất cả đều là của Người, Người là vua vũ trụ. Vạn vật là chiên của Người. Những chiên này vì tội lỗi đã xa lạc, Người đã thí mạng để chuộc chúng lại và làm vua chúng một lần nữa sau khi đã là vua chúng vì đã tạo dựng nên chúng.
Chúng ta và thụ tạo ngày nay chỉ có thể lại được sự sống của Người khi chấp nhận lễ hy sinh của Người là mục tử tốt ở nơi thập giá... Chính Người đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta nơi bàn tiệc thánh thể. Ở đây nếu chúng ta có lòng thống hối ăn năn và cầu xin tin tưởng như "người trộm lành", chúng ta sẽ được ân sủng của Người, được chính Người cho ta được làm một với Người, để Người là Ðầu của thân thể ta, giúp ta thánh hóa thêm tâm hồn và đời sống, làm cho ảnh hưởng và Nước Người lan rộng thêm. Ðó là mục tiêu chúng ta phải nhắm tới trong ngày lễ Chúa Kitô Vua hôm nay.
Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2007
CHUA NHAT 31 TN 2007
Ngày 4, tháng 11, năm 2007
Chúa Nhật 31 Mùa Thường Niên - Năm C
Thánh Vịnh 145:1-2, 8-9, 10-11, 13-14 2
Trong bài đọc một, sách Khôn Ngoan nhắc nhở chúng ta về Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa. Thiên Chúa không những chỉ tạo thành mọi sự, mà còn luôn chăm sóc cho chúng. Ngài đặc biệt thương yêu loài người là loài Ngài đã ban cho ý chí tự do để chọn lựa. Ngài không trừng phạt những người lầm lạc ngay, “nhưng khuyên răn dạy bảo họ để họ bỏ tội ác mà theo Chúa” (Kn 12:2). Những điều sách Khôn Ngoan nhắc đến đã được thưc hiện cách cụ thể qua việc Ngôi Hai Nhập Thể làm người "để tìm kiếm và cứu chữa những người đã hư mất" (Lc 19:10) như Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay.
Bài Phúc Âm nói về chuyện ông Giakêu leo lên cây sung để có thể nhìn thấy Chúa. Trong tiêng Hipri, Giakêu có nghĩa là "một người thanh sạch và vô tội." Đối với người Do Thái thời Chúa Giêsu, một người tên đẹp như thế lại làm nghề thu thuế thì thật ngược đời. Không những thế, ông còn là thủ lãnh của những người thu thuế, thì chắc họ nghĩ rằng ông là một tên đại tham nhũng, cho nên họ đã lẩm bẩm rằng Chúa "đến trọ ở nhà một người tội lỗi" (Lc 19:7). Thực sự ông có tham nhũng hay không thì chẳng ai trong chúng ta biết được. Chúng ta cũng thường vơ đũa cả nắm như người Do Thái thời đó mà nghĩ rằng tất cả mọi người thu thuế là người tội lỗi. Biết đâu ông Giakêu thật sự là "người thanh sạch và vô tội." Nhưng dù ông có tội hay vô tội đi nữa, thì cũng không quan trọng đối với Chúa. Điều quan trọng là ông đã nghe lòng mình thôi thúc đi tìm mọi cách để được thấy Chúa. Có lẽ ông không dám mơ ước được gặp Chúa vì cái nghề "tội lỗi" của ông, nhưng được thấy Chúa là ông toại nguyện. Biết mình thấp bé, không thể chen lấn với mọi người, nên ông leo sẵn lên cây cao để được nhìn Chúa. Chúa biết lòng ông nên không những đã cho ông gặp mà còn đến lưu lại nhà ông hôm đó. Được gặp Chúa, ông mau mắn hoán cải trở về với Chúa. Không những thế ông còn hứa làm nhiều hơn luật đòi hỏi để đền bù những gì lỗi đức công bình ông đã làm. Có thể ông không phải là người tội lỗi như người ta phán đoán. Nhưng nhân cuộc gặp gỡ này, Chúa muốn cho mọi ngưởi thấy cái lòng tốt tiềm ẩn trong lòng những người mà xã hội cho là xấu xa.
Theo Giáo Lý Công Giáo, thì ông Giakêu đã được công chính hóa. Công trình đầu tiên Chúa Thánh Thần thực hiện nơi ông là sự hoán cải. Dưới tác động của ân sủng, ông đã từ bỏ tội lỗi mà quay về với Thiên Chúa, nhờ đó ông được ơn tha thứ và sự công chính như Chúa nói: "Hôm nay nhà này được ơn cứu độ" (Lc 19:9). Khi được công chính hóa, con người được hòa giải với Thiên Chúa, được giải phóng khỏi tội lỗi và được chữa lành. Sự công chính ở đây chỉ sự công minh chính trực của tình yêu Thiên Chúa. Cùng với ơn này, Ngài ban cho chúng ta đức tin, đức cậy, đức mến, và ơn biết vâng theo thánh ý Ngài. Chúng ta được công chính hóa nhờ cuộc khổ nạn của Ðức Kitô, Ðấng đã dâng mình trên Thánh Giá làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, và Máu Người trở nên phương tiện đền tội cho mọi người. Ơn này cho giúp chúng ta sống phù hợp với sự công chính của Thiên Chúa (GLCG 1988-1992).
Ơn công chính hóa mở đầu cho sự cộng tác giữa ân sủng Thiên Chúa và sự tự do của con người. Về phía con người, ơn này được biểu lộ qua sự bằng lòng tin theo lời Thiên Chúa mời gọi hoán cải, và cộng tác bằng đức ái với tác động của Chúa Thánh Thần. Con người phải hợp tác với Chúa Thánh Thần khi đón nhận tác động này mà họ có thể từ chối. Tuy nhiên, không có ân sủng Chúa, họ không thể nhờ ý chí tự do của mình đạt tới sự công chính trước mặt Ngài. Chúa Thánh Thần là vị thầy nội tâm. Ơn công chính hóa khai sinh "con người nội tâm" và đem lại ơn thánh hóa toàn thể con người (GLCG 1993-1995). Ông Giakêu đã hợp tác với ơn Chúa và hứa rằng: "Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn" (Lc 19:8).
Để kết luận, một khi được công chính hóa, chúng ta không còn sống cho chính mình, nhưng sống cho Đức Kitô để chúng ta có thể nói như Thánh Phaolô rằng: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi" (Gal 2:20). Muốn được như thế, chúng ta hãy nghe lời Thánh Phaolô, hợp tác với ân sủng của Chúa trong mọi việc chúng ta làm để "Người dùng quyền phép mà kiện toàn những ý định ngay lành do lòng tốt của anh em và công việc của lòng tin anh em, để danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, được vinh hiển trong anh em, và anh em được vinh hiển trong Người" (2 Tx 1:11-12). Và như thế chúng ta có thể thưa cùng Chúa suốt đời: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời” (TV 145:2)
Thirty-First Sunday in Ordinary Time—Year C
Wisdom 11:22–12:2
Psalm 145:1-2, 8-9, 10-11, 13-14
2 Thessalonians 1:11-2:2
Luke 19:1-10
In the first reading, the book of Wisdom reminds us of God’s mercy. He did not only create all things, but He always cares for them. He specially loves man to whom He has given freewill to freely choose to obey Him or not. He does not punish the sinners immediately but rebukes them “little by little, warns them and reminds them of the sins they are committing, that they may abandon their wickedness and believe in Him” (cf
The Gospel tells the story of Zacchaeus, who climbed a sycamore tree to see Jesus. Zacchaeus in Hebrew means “the pure or innocent one.” For the Jews of his time, it is a paradox for a man of such name to be a tax collector. He is not only a tax collector but their leader, a chief tax collector. They must think that he was badly corrupted and unjust, so they grumbled about Jesus’ decision to stay at Zacchaeus’ house: “He has gone to stay at the house of a sinner” (Lk 19:7). We do not know if he was corrupted or not. As the Jews in this story, we have a tendency to group people together and think that all tax collectors are sinners. With God, Zacchaeus may actually be an honest tax collector, “the pure and innocent one.” However, it was not important to Jesus if he was a sinner or not. The fact that he listened to the desire of his heart and tried many different ways to see Jesus was very important. Probably he did not dare to dream of meeting Jesus because of his sinful profession but only wished to see His face. Knowing his stature, he went ahead of the crowd and climbed on a sycamore tree to see Jesus more clearly. Jesus knew his heart, so He did not only let Zacchaeus see Him but came and stayed in his house that day. Once encountering Jesus, Zacchaeus quickly returned to God, and promised to do more than what was required by the law to correct his mistakes. Possibly he was not an unjust tax collector as people thought, and Jesus took this opportunity to unveil the hidden goodness in the heart of the one who was despised by his country men.
According to the Catechism of the Catholic Church, Zacchaeus was justified in this event by cooperating with the grace of God. The first work of the grace of the Holy Spirit is conversion. Moved by grace, he turned toward God and away from sin, thus accepting forgiveness and righteousness. It reconciled him with God. It freed him from the enslavement to sin, and it healed. Justification is at the same time the acceptance of God's righteousness through faith in Jesus Christ. With justification, faith, hope, and charity are poured into our hearts, and obedience to the divine will is granted us. Justification has been merited for us by the Passion of Christ who offered himself on the cross as a living victim, holy and pleasing to God, and whose blood has become the instrument of atonement for the sins of all men. Justification is conferred in Baptism (cf
Justification establishes cooperation between God's grace and man's freedom. Justification is the most excellent work of God's love made manifest in Christ Jesus and granted by the Holy Spirit. The Holy Spirit is the master of the interior life. By giving birth to the "inner man," justification entails the sanctification of his whole being (cf
In conclusion, once being justified, we no longer live for ourselves but for Christ, so that we can say as Saint Paul said: “I live, no longer I, but Christ lives in me; insofar as I now live in the flesh, I live by faith in the Son of God who has loved me and given himself up for me” (Gal 2:20). In order to do that, we should listen to Saint Paul and cooperate with God’s graces in everything we do so that “God may make you worthy of His calling and powerfully bring to fulfillment every good purpose and every effort of faith, that the name of our Lord Jesus may be glorified in you, and you in Him, in accord with the grace of our God and Lord Jesus Christ” (2 Thes 1:11-12). Thus, we can praise God always: “I will praise Your Name for ever, my King and My God” (Ps 145:2).
SU DIEP NGAY THE GIOI TRUYEN GIAO 2007
Nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo 2007, Đức Thánh Cha kêu gọi toàn thể Dân Chúa cùng nhau suy tư về tính chất cấp bách và tầm quan trọng của hoạt động truyền giáo trong thời đại chúng ta. Ngày nay vẫn tiếp tục vang vọng lời kêu gọi mang tính hoàn vũ và tha thiết của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh trước khi Ngài được cất lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” và Ngài thêm “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28,19-20) Trong nghĩa vụ truyền giáo cấp thiết này chúng ta được trợ lực và đồng hành bởi xác tín rằng Ngài, chủ mùa gặt, luôn ở với chúng ta và không ngừng hướng dẫn dân Người.
Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2007
Anh Chị Em thân mến,
Nhân dịp Ngày Thế Giới Truyền Giáo, tôi kêu gọi toàn thể Dân Chúa – các giám mục, các linh mục, nam nữ tu sĩ và anh chị em giáo dân cùng nhau suy tư về tính chất cấp bách và tầm quan trọng của hoạt động truyền giáo trong thời đại chúng ta. Ngày nay vẫn tiếp tục vang vọng lời kêu gọi mang tính hoàn vũ và tha thiết của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh trước khi Ngài được cất lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” và Ngài thêm “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28,19-20) Trong nghĩa vụ truyền giáo cấp thiết này chúng ta được trợ lực và đồng hành bởi xác tín rằng Ngài, chủ mùa gặt, luôn ở với chúng ta và không ngừng hướng dẫn dân Người. Chúa Kitô là nguồn mạch bất tận của sứ mạng truyền giáo trong Giáo Hội. Năm nay, một biến cố khác khơi dậy trong chúng ta dấn thân truyền giáo mới: đó là kỷ niệm 50 năm Thông Điệp Fidei Donum (Hồng Ân Đức Tin – 21/4/1957) do Tôi Tớ Chúa là Đức Piô XII ban hành để đề cao và khích lệ sự cộng tác chung giữa các Giáo Hội địa phương trong nghĩa vụ truyền giáo giữa các dân nước.
“Tất cả mọi Giáo Hội địa phương cho Toàn Thế Giới” là chủ đề được chọn cho Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo năm nay. Đây là lời mời gọi các Giáo Hội địa phương cùng nhau tái khám phá tính chất cấp thiết của việc tái khởi động hoạt động truyền giáo đứng trước vô số những thách đố nghiêm trọng trong thời đại chúng ta. Chắc chắn là điều kiện sống của nhân loại đã thay đổi; và trong những thập niên gần đây một nỗ lực to lớn đã được thực hiện để truyền bá Tin Mừng, đặc biệt là sau Công Đồng Chung Vatican II. Dù thế, vẫn còn nhiều điều phải làm để đáp lại lời mời gọi truyền giáo mà Chúa không ngừng đưa ra đối với mọi Kitô hữu đã nhận lãnh phép Rửa Tội. Ngài tiếp tục mời gọi trước hết là những Giáo Hội “kỳ cựu”, trong quá khứ đã cung ứng cả các phương tiện vật chất lẫn con số đều đặn các linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân cho sứ mạng truyền giáo, làm gia tăng sự hợp tác hiệu quả giữa các cộng đoàn Kitô Giáo. Sự hợp tác này đã sinh ra nhiều thành quả tông đồ phong phú cho cả Giáo Hội trong những miền truyền giáo, lẫn những thực tại giáo hội mà từ đó các vị thừa sai đã được sai đi. Đứng trước sự lan tràn của nền văn hóa thế tục, ngày càng xâm nhập các xã hội tây phương, thêm vào đó có cuộc khủng hoảng gia đình, sự giảm sút ơn gọi và hàng giáo sĩ ngày càng cao tuổi, các Giáo Hội Kitô kỳ cựu có nguy cơ khép kín, co cụm vào chính mình, hướng nhìn về tương lai với niềm hy vọng bị thu hẹp và giảm bớt nỗ lực truyền giáo. Nhưng chính đây là lúc phải tỏ ra tin tưởng, cởi mở đối với Chúa Quan Phòng, Đấng không bao giờ bỏ rơi dân Ngài, và với quyền năng của Chúa Thánh Linh, Ngài hướng dẫn dân Chúa tiến tới sự chu toàn ý định cứu độ ngàn đời của Ngài.
Các Giáo Hội mới được truyền giáo cũng được Vị Mục Tử Nhân Lành mời gọi dâng hiến chính mình cách quảng đại cho sứ mạng truyền giáo muôn dân. Dù họ gặp không ít khó khăn và trở ngại trong sự phát triển của mình, những cộng đoàn này vẫn tiếp tục tăng trưởng. May mắn là một số cộng đoàn đó đã có những con đông đảo các linh mục và những người được thánh hiến, dù nhu cầu địa phương cũng cần, nhưng nhiều người trong số họ, đã được sai đi những nơi khác để thi hành các hoạt động mục vụ và các sứ vụ tông đồ ngay cả tại các miền đất của các Giáo Hội kỳ cựu. Và như thế, chúng ta thấy được một sự “trao đổi hồng ân” được Chúa quan phòng, đang triển nở những ơn ích cho toàn nhiệm thể Chúa Kitô. Tôi hy vọng chân thành rằng sự hợp tác truyền giáo sẽ được tăng cường hơn nữa, đẩy mạnh hơn nữa tiềm năng và lòng nhiệt thành của mỗi giáo hội. Tôi hy vọng rằng Chúa Nhật Truyền Giáo Thế Giới sẽ giúp gieo trong lòng tất cả những cộng đoàn Công Giáo và từng cá nhân các tín hữu ý thức mạnh mẽ hơn về bản chất hoàn vũ của lời mời gọi của Chúa Kitô truyền bá Nước Ngài tới những góc trời xa xăm của thế giới. “Giáo Hội về bản chất là truyền giáo”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết như trên trong Thông Điệp Redemptoris Missio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế - 07/12/1990) vì lệnh truyền của Chúa Kitô không phải điều chi là khách quan hay ngoại tại, nhưng chạm đến chính trung tâm của Giáo Hội. Điều đó dẫn đến việc Giáo Hội hoàn vũ và mỗi cá nhân được sai đến cùng muôn dân nước. Để “lòng nhiệt thành truyền giáo này được triển nở trong dân chúng của chính quốc gia mình”, thật là thích hợp khi các Giáo Hội trẻ trung “chia sẻ sớm hết sức có thể trong sứ mạng truyền giáo hoàn vũ của Giáo Hội. Chính các Giáo Hội này cần gởi các thừa sai đi công bố Tin Mừng cho toàn thế giới, ngay cả dù họ đang gặp phải tình trạng thiếu hụt hàng giáo sĩ” (số 62).
50 năm sau lời kêu gọi lịch sử của vị tiền nhiệm của tôi là Đức Piô XII trong Thông Điệp Hồng Ân Đức Tin cho sự hợp tác giữa các Giáo Hội địa phương trong sứ vụ truyền giáo, tôi muốn khẳng định rằng việc công bố Tin Mừng vẫn giữ nguyên tính chất cấp bách và thời sự. Trong Thông Điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế được đề cập ở trên, về phần mình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội rộng lớn hơn ‘sự hiệp thông giữa các giáo hội’; nó cần phải hướng đến không những là việc trợ giúp nỗ lực tái truyền giảng Tin Mừng nhưng phải chủ yếu là dành cho các hoạt động truyền giáo như thế” (64). Do đó, các nỗ lực truyền giáo, như đã được lặp lại nhiều lần, vẫn là sứ vụ đầu tiên mà Giáo Hội mắc nợ với nhân loại ngày nay, đó là định hướng và phúc âm hóa những đổi thay về văn hóa, xã hội, và luân lý để ban ơn cứu độ của Chúa Kitô cho những người nam nữ của thời đại chúng ta ngày nay đang bị lăng nhục, và áp bức trong nhiều miền khác nhau của thế giới vì tình trạng nghèo đói đang lan tràn như một dịch bệnh, cùng với bạo lực cũng như việc phủ nhận có hệ thống các nhân quyền.
Giáo Hội không thể giản lược sứ vụ truyền giáo hoàn vũ này; đó là một bổn phận. Vì Chúa Kitô đã tín thác sứ mệnh truyền giáo này đầu tiên cho thánh Phêrô và các Thánh Tông Đồ, sứ mệnh này đặt nặng trên vai trước hết là những người Kế Vị Thánh Phêrô, người mà Chúa Quan Phòng đã chọn làm nền tảng hữu hình cho sự hiệp nhất của Giáo Hội, sau đó là các Đức Giám Mục, những người chịu trách nhiệm trong việc truyền bá Tin Mừng trong tư cách là những thành viên của Hội Đồng Giám Mục, và là những mục tử của các Giáo Hội cụ thể (x Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, 63). Do đó, tôi thúc giục tất cả các Giáo Hội địa phương, những người Chúa đã chọn để giao phó coi sóc đoàn chiên duy nhất của Ngài, hãy chia sẻ những cố gắng công bố và truyền bá Tin Mừng. Đây là ý định mà 50 năm trước đây đã dẫn đưa vị Tôi Tớ Chúa Đức Piô XII đến quyết định cổ vũ cho sự hợp tác truyền giáo hầu thích nghi hơn với những nhu cầu của thời đại. Đặc biệt trong viễn kiến truyền giáo, ngài đã kêu gọi Giáo Hội và các cộng đoàn của các Giáo Hội kỳ cựu hãy gởi các linh mục đến trợ giúp các Giáo Hội tân lập. Qua đó, ngài thành lập một “cơ quan thừa sai” lấy từ những chữ đầu trong Thông Điệp mang tên Fidei Donum. Ngài viết: “Khi chúng ta hướng ý nghĩ đến, một bên là con số cơ man những con cái chúng ta, những người chia sẻ hồng ân đức tin, đặc biệt nơi những quốc gia đã trở thành Kitô Giáo; và một bên là những đám đông bất tận những người vẫn còn phải trông chờ ơn cứu độ được loan truyền cho họ, lòng chúng tôi đầy tràn một ước muốn mãnh liệt khích lệ anh em hết lần này đến lần khác, hỡi các Hiền Huynh Đáng Kính, hãy nâng đỡ với nhiệt tình chí nguyện thánh thiện là đem Giáo Hội của Chúa đến cho toàn thế giới”. Và ngài nói thêm “Xin cho những lời cổ vũ này của chúng tôi dậy lên một nhiệt tâm tông đồ truyền giáo nơi các linh mục và qua họ đốt lên ngọn lửa nhiệt thành trong lòng các tín hữu” (Hồng Ân Đức Tin số 4).
Chúng ta cám tạ Chúa vì những thành quả phong phú của sự hợp tác truyền giáo này tại Phi Châu và tại nhiều miền khác trên thế giới. Đông đảo các linh mục, đã rời quê hương bản quán của mình, và đã đặt nhiệt tình tông đồ của mình trong việc giúp các cộng đoàn, một số chỉ mới được thành lập, trong các khu vực nghèo đói và còn đang phát triển. Trong số các vị đã có không ít những vị tử đạo, những người đã kết hiệp chứng tá bằng lời nói và sự tận tụy tông đồ với sự hy sinh chính mạng sống mình. Chúng ta cũng không thể quên không nhắc đến các nam nữ tu sĩ và anh chị em giáo dân truyền giáo đã sát cánh với các linh mục để rao truyền Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Xin cho Chúa Nhật Thế Giới Truyền Giáo này là một cơ hội để nhớ đến trong lời cầu nguyện của chúng ta tất cả những anh chị em trong đức tin này của chúng ta và tất cả những ai đang tiếp tục hoạt động trong cánh đồng truyền giáo mênh mông. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa gia tăng ở mọi nơi những ơn gọi mới, và ý thức truyền giáo sâu xa hơn trong các tín hữu Công Giáo. Thật ra, mỗi cộng đoàn Công Giáo về bản chất là một cộng đoàn truyền giáo và chính can đảm truyền giáo là thước đo tình yêu của người tín hữu với Chúa của họ. Chúng ta có thể nói rằng với mỗi tín hữu Công Giáo không chỉ đơn giản là vấn đề hợp tác với các hoạt động truyền giáo, nhưng hơn thế là nhận thức rằng chính họ cũng phải là những nhà truyền giáo, cả họ cũng phải chia sẻ trách nhiệm đối với các hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. Trách nhiệm được chia sẻ này nghĩa là sự hiệp thông giữa các cộng đoàn phải được tăng cường và sự trợ giúp lẫn nhau phải được gia tăng cả về phương diện nhân sự (các linh mục, tu sĩ và giáo dân truyền giáo) lẫn các phương tiện cần thiết cho việc truyền giáo ngày nay.
Anh Chị Em thân mến,
Sứ mệnh truyền giáo mà Chúa Kitô đã trao phó cho các thánh Tông Đồ thực sự liên quan đến tất cả chúng ta. Xin cho Chúa Nhật Truyền Giáo này do đó là một cơ hội để gia tăng trong nhận thức và trong sự cùng nhau hoạch định cho những sáng kiến thích hợp về linh đạo và đào tạo nhằm nuôi dưỡng sự hợp tác giữa các Giáo Hội địa phương và đào tạo nên nhiều nhà truyền giáo để truyền bá Tin Mừng trong thời đại chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng sự đóng góp chủ yếu và ưu tiên nhất cho hoạt động truyền giáo mà chúng ta được mời gọi là lời cầu nguyện. “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ gặt sai thợ ra gặt lúa về”. (Lc 10:2) 50 năm trước đây, Đức Thánh Cha Piô XII đã viết “Các Hiền Huynh đáng kính hãy dâng lên lời cầu nguyện sốt sắng ngày một nhiều hơn lên Thiên Chúa. Đừng ngưng suy nghĩ sâu xa đến nhiều dân tộc đang gặp cơ man những nguy hiểm thật sự về thiêng liêng: những người lang thang quá xa khỏi chân lý cũng như những ai đang cần đến những phương tiện để bền đỗ đến cùng” (Hồng Ân Đức Tin số 55). Và ngài đã kêu gọi dâng các Thánh Lễ cho việc Truyền Giáo khi nhận xét rằng “Điều này xứng hợp với những lời cầu nguyện của Chúa chúng ta, Đấng yêu thương Giáo Hội của Ngài và muốn cho Giáo Hội thăng tiến và mở rộng biên cương trên toàn thế giới” (ibid.52).
Anh Chị Em thân mến,
Tôi cũng nhắc lại lời mời gọi thời sự hơn bao giờ này. Xin cho lời cầu được đồng thanh dâng lên Chúa “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, vươn tới mọi cộng đồng để cho nước Cha được trị đến. Tôi hiệu triệu đặc biệt trẻ em và thanh niên hãy sẵn sàng hơn bao giờ cho hoạt động truyền giáo quảng đại. Tôi hướng đến những người đau yếu và đau khổ, xin hãy nghĩ đến sự hợp tác nhiệm mầu và thiết yếu với kỳ công cứu chuộc. Tôi kêu gọi những người sống đời thánh hiến, đặc biệt các dòng kín, hãy nhiệt thành cầu nguyện cho sứ vụ truyền giáo. Xin cho những nỗ lực về phía các tín hữu giăng mắc trên toàn Giáo Hội một mạng lưới cầu nguyện để nâng đỡ truyền giáo. Cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã đồng hành với những khởi đầu của Giáo Hội bằng sự chăm sóc từ mẫu hướng dẫn bước đi chúng ta trong thời đại này và xin cho chúng ta một lễ Hiện Xuống mới trong yêu thương. Xin Mẹ giúp chúng ta nhận thức rằng tất cả chúng ta là những nhà truyền giáo, tất cả được Chúa sai đi để làm chứng nhân cho Ngài mọi lúc trong đời ta. Với những Hồng Ân Đức Tin là các linh mục, tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân thừa sai truyền giáo trên tiền tuyến rao giảng Tin Mừng và tất cả những ai cách này cách khác đang giúp công bố Tin Mừng, tôi bảo đảm với anh chị em lời cầu nguyện hàng ngày của tôi trong khi tôi ưu ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho anh chị em.
Từ
ĐTC BÊNÊĐICTÔ XVI
MUNG LE CAC THANH
THỨ NĂM 01/11/2007
Lễ Các Thánh
(Lễ Buộc, Xem Bài Đọc)
1. Ghi nhớ: “Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời” . (Mt 5, 11)
2. Suy niệm: Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa nói “Phúc cho các con” chín lần. Tám lần đầu nói về Tám điều mà một môn đệ của Chúa phải làm để nên thánh, và lần sau cùng Chúa cho chúng ta biết giá chúng ta phải trả khi sống Tám Mối Phúc Thật ở đời này thế nào và phần thưởng chúng ta sẽ lãnh được ở đời sau ra sao. Chúa mời gọi mỗi người chúng ta nên hoàn thiện, nghĩa là nên thánh, như Cha trên trời. Chúa còn cho chúng ta biết rằng Tám Mối Phúc Thật chính là con đường chúng ta phải đi theo để nên Thánh. Theo ĐTC Gioan Phaolô II thì "Chúa Giêsu không những chỉ giảng Tám Mối Phúc Thật, mà Người còn sống Tám Mối Phúc Thật. Chính Người là Tám Mối Phúc Thật. Chỉ cần nhìn vào Người các con thấy thế nào là có tinh thần nghèo khó, là hiền lành và thương người, là khóc lóc, là quan tâm đến sự công chính, là có lòng trong sạch, là xây dựng hoà bình, là bị ngược đãi. Vì vậy Người có quyền nói, 'Hãy đến và theo Thầy!' Người không chỉ nói 'Làm những gì Thầy dạy'. Người nói, 'Hãy đến và theo Thầy!'" (Bài Giảng của ĐTC Gioan Phaolô II trên Núi Tám Mối Phúc Thật).
Các Thánh trên Thiên Đàng là những người đã nghe lời mời gọi của Chúa và đã trung thành theo Chúa bằng cách sống Tám Mối Phúc Thật. Khi mừng lễ kính các Thánh, Hội Thánh muốn đem các ngài ra làm gương cho chúng ta trên để chúng ta theo con đường ủa các ngài mà nên thánh.
3. Sống Lời Chúa: Ông kia bà nọ nên thánh còn tôi thì sao?
4. Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con hiểu rằng con đường nên thánh là sống theo thánh ý Chúa và thực hành Tám Mối Phúc Thật trong việc bổn phận hàng ngày. Amen.
THỨ SÁU 02/11/2007
Lễ Các Đẳng Linh Hồn
(Xem Bài Đọc)
1. Ghi nhớ: “Nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.”. (Rom 6:5)
2. Suy niệm: Đối với một Kitô hữu, chết không phải là hết, nhưng là bước sang một đời sống mới. Những ai đã cùng chết với Đức Kitô qua Bí Tích Thánh Tẩy sẽ được cùng sống lại với Người sau khi trải qua cuộc sống tạm bợ này. Chết với Đức Kitô có nghĩa là "từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa" (Lc 9:23). Vì chúng ta là con người yếu đuối, dù có muốn theo Chúa cách nào đi nữa thì đôi khi chúng ta cũng bị sa ngã phạm tội. Tuy Bí Tích Hoà Giải tha các tội chúng ta phạm, nhưng vì lẽ công bình, chúng ta vẫn phải chịu thanh luyện cho sạch các tỳ vết do các tội ấy gây ra, hoặc ở đời này, hoặc ở đời sau trong Luyện Ngục.
Trong suốt tháng này Hội Thánh kêu gọi chúng ta bỏ hết công sức ra hy sinh kết hợp với hiến lễ của Chúa Giêsu để cầu nguyện cho các linh hồn.đã ra đi trước chúng ta trong ân nghĩa Chúa nhưng chưa được hưởng Thánh Nhan Chúa. Các linh hồn đang ở trong tình trạng thanh luyện cho xứng với tình yêu tuyệt đối của Chúa. Nhưng lòng nhân từ của Chúa muốn để cho ta có dịp chia sẻ với các linh hồn. Vì thực ra trong cuộc sống hàng ngày chúng ta liên kết chặt chẽ với nhau cả trong ân sủng và cả trong tội. Ý thức để chúng ta biết giúp các linh hồn bằng những hy sinh, xin lễ, cầu nguyện…đó cũng là cách làm cho chính mình trở nên cao đẹp hơn và trong sạch hơn.
3.Sống Lời Chúa: Luôn nhớ tới các linh hồn để cầu nguyện cho họ, nhất là các linh hồn mồ côi
4. Cầu nguyện: Lạy Chúa, chúng con sẽ cố gắng hy sinh để đền tội cho các linh hồn và chúng con tin rằng, khi các ngài được về bên Chúa thì chúng con cũng sẽ được liên kết trong tình yêu của Chúa nhiều hơn. Amen.
THURSDAY
Solemnity of All Saints
(See Readings)
1. Remember: “Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you falsely because of me. Rejoice and be glad, for your reward will be great in heaven” (Mt 5, 11).
2. Reflection: In the Gospel today, Jesus repeats "Blessed are you" nine times. The first eight times He teaches us what to do to be holy, and the last time He tells us the price we have to pay when we live the Beatitudes, and the reward we will receive after life. Jesus also informs us that the Beatitudes are the way of holiness. According to Pope John Paul II: "Jesus does not merely speak the Beatitudes. He lives the Beatitudes. He is the Beatitudes. Looking at him you will see what it means to be poor in spirit, gentle and merciful, to mourn, to care for what is right, to be pure in heart, to make peace, to be persecuted. This is why he has the right to say, 'Come, follow me!' He does not say simply, 'Do what I say'. He says, 'Come, follow me!'" (Homily to Youth on Mount of Beatitudes, Mach 24, 2000).
The Saints in Heaven are the one who accepted Jesus' invitation and faithfully followed Him by living the Beatitudes. When celebrating the Feast of All Saints, the Church wants to use them as examples for us so that we can become holy by following their ways of living.
3. Practice: Other people like me can be saints, how can I?
4. Prayer: Lord, please help me to understand that the way of holiness is to do Your Will by living the Beatitudes in performing our daily duties. Amen.
FRIDAY
All Souls Day
(See Readings)
1. Remember: "We shall also be united with him in the resurrection (Rom 6:5).
2. Reflection: For a Christian, death is not final, but a transformation into a new life. Everyone who dies with Jesus in Baptism will live with Him after this temporary life. Dying with Christ means to "denying yourself and take up your cross and follow Jesus daily" (Lk 9:23). However, because of our sinful human nature, even if we want dearly to follow Jesus, once in a while we will fall and sin. Although Jesus forgives our sins through the Sacrament of Reconciliation, due to justice, we still have to be cleansed from the stains of sins either in this world or after death in the Purgatory before entering Heaven.
In this month, the Church asks us to unite our sacrifices to the sacrifice of Jesus and to pray for the souls of the ones who have departed before us in the grace of God, but are still awaiting for the Beatific Vision. They are in a state of purification to become worthy of the holy Love of God. God's Mercy gives us chances to share with them our sacrifices and prayers. In fact, in everyday life, we are uniting with each other in both grace and sin. By realizing this, we should sacrifice, offer Mass and pray for them. In the meantime, this will also help us to purify ourselves.
3. Practice: Always remember the departed and pray for them, especially the forgotten souls.
4. Prayer: Lord, we will try to sacrifice and to pray for the departed and we believe that when they enjoy Your Presence we will be united more closely in your Love. Amen.
