Hôm nay Hội Thánh dùng bài đọc thứ nhất trong sách Ngôn Sứ Isaia để sửa soạn cho sự xuất hiện của Đức Kitô như “Ánh Sáng Thế Gian.” Ánh sáng đó thay vì chiếu soi giữa thủ đô của nước Do Thái thì lại chiếu soi trước hết ở vùng đất dân ngoại, vùng đất Gallilêa. Trong bài Tin Mừng Chúa đã gọi các môn đệ đầu tiên để huấn luyện và sau này sai họ đi làm ánh sáng ấy thay cho Người.
Khi Chúa bắt đầu cuộc đời rao giảng công khai thì người mời gọi mọi người “Hải hối cải vỉ Nước Trời đã gần”. Để sửa soạn đem Nước Trời đến với muôn dân, Người tụ tập các môn đệ bằng cách gọi họ, gọi đích dánh từng người như chúng ta thấy Chúa gọi các ông Andrê, Phêrô, Gioan và Giacôbê hôm nay là “Hãy theo Thầy”. Vì muốn theo Thầy nên các ông đã bỏ tất cả để đi theo, không một chút luyến tiếc.
Ngày nay khi nói đến ơn gọi, nhiều người vẫn chỉ nghĩ đến “ơn gọi tu trì”, mà quên rằng Chúa cũng gọi mỗi người theo Chúa trong hoàn cảnh và địa vị của mình. Chúng ta thấy trường hợp người bị quỷ ám trong Marcô 5:18. Sau khi được chữa lành, anh xin đi theo Chúa, “nhưng Người không cho phép, Người bảo: ‘Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào.’ Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền trong miền Thập Tỉnh tất cả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh.” Chúa cũng muốn chúng ta, là những giáo dân, “về với thân nhân và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho chúng ta, và Người đã thương chúng ta như thế nào”. Đây chính là ơn gọi của chúng ta. Nhưng với Giáo Lý viên, Chúa còn muốn chúng ta trực tiếp hợp tác vào sứ vụ Ngôn Sứ của Người. Chúa đặt chúng ta làm thầy dạy (1 Cor 12:28) không những chỉ cho những học viên Chúa trao cho chúng ta mà cho tất cả mọi người chúng quanh chúng ta bằng cách sống thế nào để làm chứng cho mọi người thấy Chúa thương yêu chúng ta thế nào và thương yêu họ thế nào qua lời nói, việc làm và cách cư sử của chúng ta.
Chấp nhận làm Giáo Lý viên là chấp nhận từ bỏ tất cả để theo Chúa. Mà việc đầu tiên là từ bỏ chính mình, chính ý riêng mình. Một Giáo Lý viên không bao giờ được dạy về kiến thức của mình, mà chỉ dạy những gì Chúa muốn chúng ta dạy qua Giáo Huấn Hội Thánh. Người Giáo Lý Viên phải ý thức sứ mạng quan trọng của mình trong chương trình Cứu Độ nhân loại của Thiên Chúa như thế nào, và phải biết chấp nhận hy sinh không những chỉ để phục vụ mà còn học hỏi để hiểu biết, yêu mến và kết hợp với Đức Kitô mỗi ngày một hơn. Không có gì có thể nói lên trọn vẹn sứ vụ của Giáo Lý Viên bằng tóm tắt Giáo Lý dưới đây:
“Dạy giáo lý là dạy về Ðức Kitô. Tất cả những điều khác được giảng dạy đều quy về Người. Ðức Kitô chính là Ðấng giảng dạy, còn những người khác đều là phát ngôn viên của Người, để Người dạy qua miệng lưỡi họ.... Mọi Giáo Lý viên đều phải áp dụng cho mình lời nói nhiệm mầu của Chúa Giêsu: "Giáo huấn tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Ðấng đã sai tôi." Ai được mời gọi để dạy về Ðức Kitô trước hết phải tìm “mối lợi tuyệt vời là hiểu biết Ðức Kitô;” người đó phải “mất hết ... để được Ðức Kitô và được kết hợp với Người.” Từ sự hiểu biết Ðức Kitô trong tình yêu, chúng ta mới khao khát rao giảng về Người và đem tha nhân đến đức tin vào Người (426-429).”
Chúa nhật tuần này Hội Thánh nhắc nhở chúng ta về mầu nhiệm Chúa Giêsu là Đức Kitô, là “Người Tôi Tớ” mà Thiên Chúa đặt lên “làm ánh sáng cho các dân tộc để ơn cứu độ được lan tràn khắp địa cầu” (Is 49:6), là “Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” (Ga 1:29). Và chính chúng ta cũng được mời gọi để nên thánh (1 Cor 1:2) bằng cách chia sẻ sứ vụ của “Con Chiên” để trở thành “ánh sáng thế gian” là hình ảnh của “Con Chiên” giữa trần.
Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia báo trước về sứ mạng của Người Tôi Tớ mà Thiên Chúa sẽ sai đến, là Đức Kitô. Đức Kitô xuống trần không phải để làm theo ý mình, mà làm theo ý Chúa Cha (x. Tv 39:8a, Ga ; ). Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Goan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian,” là Người sẽ rửa tội chúng ta bằng Thánh Thần, là Người Được Tuyển Chọn.”Hình ảnh “Con Chiên” đối với người Do Thái là hình ảnh Chiên Vượt Qua mà máu của nó đã cứu dân Israel bên Ai Cập, là hình ảnh “những con chiên không tỳ vết” mà người Do Thái trong Cựu Ước vẫn sát tế để làm của lễ Toàn Thiêu, cũng là hình ảnh của “con chiên” gánh tội của người khác như đựợc nói đến trong bài ca thứ tư về Người Tôi Tớ của ngôn sứ Isaia. “Chiên Con” cũng được dùng trong sách Khải Huyền 27 lần để nói về Đức Kitô.
Đức Kitô được Thiên Chúa đặt làm “ánh sáng muôn dân.” Thánh Gioan Thánh Sử cũng giới thiệu Chúa Giêsu là “ánh sáng thế gian” (Ga 1:9), và Chúa Giêsu cũng cho chúng ta biết chính Người là “ánh sáng thế gian” (Ga ; ; 9:5; ). Trong thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrinthô, Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta rằng chúng ta đã được Đức Kitô thánh hóa [nhờ Máu của Người đổ ra trên thập giá], cho nên tất cả chúng ta được mời gọi để nên thánh. Khi chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy và được tháp nhập vào Nhiệm Thể Đức Kitô thì chúng ta đã được thánh hóa, đồng thời chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để nên “hoàn thiện như Cha trên Trời” (Mt 5:48), và Người cũng trao cho chúng ta sứ vụ trở thành “ánh sáng thế gian” (Mt 5:14) vì Người cho chúng ta chia sẻ ánh sáng của Người. Mà muốn được chia sẻ ánh sáng của Người thì chúng ta cũng phải sẵn lòng chấp nhận chia sẻ trách nhiệm làm “Chiên Thiên Chúa” giữa trần gian, nghĩa là bằng lòng “kết hợp với Ðức Kitô qua một cái chết như cái chết của Người” (Rom 6:5), sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ (cũng như vinh quang) vì Chúa.
Theo Giáo Lý Công Giáo, tất cả mọi điều Chúa Giêsu nói, làm, và chịu đều có mục đích mặc khải về Chúa Cha. Cả cuộc đời Người là mầu nhiệm Cứu Ðộ qua máu của Người trên Thập Giá mà xuống trên chúng ta, để phục hồi chúng ta lại tình trạng nguyên thủy là con cái Thiên Chúa (GLCG 516-518). Ðức Kitô không chỉ sống cho mình, nhưng cho chúng ta, từ lúc nhập thể cho đến khi chết và phục sinh. Người là gương mẫu cho ta. Người sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Người.Chúng ta được hiệp thông với Người như chi thể của Nhiệm Thể Người (GLCG 519-521).
Cuộc đời công khai bắt đầu từ khi Người chịu phép rửa. Người bắt đầu sứ mạng làm người Tôi Tớ Ðau Khổ. Lúc Người chịu Phép Rửa, các tầng trời mà tội Ađam đã đóng lại, được mở ra, và dòng nước được thánh hóa bởi Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần báo hiệu cuộc sáng tạo mới. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng được cùng mai táng với Người để sống lại với Người bởi nước và Thánh Thần (GLCG 535-537).
Là Giáo Lý viên, chúng ta luôn luôn noi gương và kết hợp với Đức Kitô, khiêm nhường làm theo Thánh Ý Chúa như con chiên vui vẻ để người khác dẫn đi sát tế. Có như thế chúng ta mới nên giống Người mà trở thành ánh sáng thế gian. Theo gương Thánh Gioan Tiền Hô, chúng ta là những người chỉ đường cho người khác đến cùng Đức Kitô. Đức Kitô phải là trọng tâm của mọi việc chúng ta làm như Chúa Cha là trọng tâm của mọi việc Người đã làm. Chúng ta phải chấp nhận “nhỏ đi, để Đức Kitô được nổi lên” (x. Ga ).
Ngày 13 tháng 1, năm 2008 Chúa Nhật Lễ Chúa Chịu Phép Rửa
Chúa Nhật này đánh dấu ngày cuối cùng của mùa Giáng Sinh và mở đầu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Hôm nay cũng là ngày đầu tiên của Thường Niên, là mùa chúng ta dõi theo bước chân của Chúa Giêsu trên hành trình rao giảng Tin Mừng của Người. Việc Chúa Giêsu chịu phép rửa là dấu chỉ rằng Người đã hoàn toàn mặc lấy bản tính nhân loại. Các bài đọc hôm nay cũng như các bài đọc tuần trước nói lên việc Thiên Chúa tỏ mình ra trong con người Đức Chúa Giêsu Kitô. Tin Mừng trình bày ngày Chúa chịu phép rửa như thời điểm mà Thiên Chúa tỏ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là Con Yêu Dấu của Ngài. Các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy rằng việc Chúa chịu Phép Rửa là nền tảng cho sự hiểu biết của chúng ta về các Bí Tích Khai Tâm, đặc biệt là BÍ Tích Thánh Tẩy. Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia nói rằng Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn sẽ giải thoát dân Người qua sự thương khó và khổ nạn của Người. Và Chúa Giêsu qua cuộc khổ nạn và cái chết của Người đã thật sự giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Theo sách Giáo Lý Công Giáo thì tất cả các tiên trưng trong Cựu Ước đều được thực hiện nơi Ðức Kitô. Người khởi sự cuộc đời công khai sau khi chịu phép rửa của thánh Gioan. Việc này cho thấy sự tự hạ của Người. Chúa Thánh Thần ngự trên Người như để mở đầu cho một cuộc tạo dựng mới, và Chúa Cha giới thiệu Người là "Con Yêu Dấu" của Ngài. Trong cuộc Vượt Qua, Người đã khơi nguồn bí tích Thánh Tẩy. Người nói về cuộc tử nạn tại Giêrusalem như "một Phép Rửa" Người phải lãnh nhận. Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người trên thập giá tiên trưng cho bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể là những bí tích ban đời sống mới. Bí tích Thánh Tẩy đã phát xuất từ Thánh Giá, từ cái chết của Ðức Kitô (GLCG 1223-1225). Người đã để lại cho chúng ta Bí Tích Thánh Tẩy, là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thần linh và mọi bí tích khác. Nhờ bí tích này chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và tái sinh làm con cái Thiên Chúa, thành chi thể của Ðức Kitô, được gia nhập và tham dự sứ mạng của Hội Thánh (GLCG 1213). Sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, các thánh Tông Đồ và các cộng sự viên ban bí tích Thánh Tẩy cho tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu: Do Thái và ngoại giáo. Bí tích Thánh Tẩy luôn gắn liền với đức tin. Theo thánh Phaolô, nhờ bí tích Thánh Tẩy người tín hữu cùng chết với Ðức Kitô, được mai táng và phục sinh với Người. Những người được rửa tội "mặc lấy Đức Kitô" (GLCG 1226-1228). Ngày nay với sự thịnh hành của thuyết tương đối về tôn giáo, có nhiều người đã chủ trương rằng không cần phải truyền giáo. Việc Chúa chịu phép rửa một lần nữa nhắc nhở cho tất cả chúng ta sứ vụ truyền giáo mà Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ trong các Tin Mừng (xem Mt 28:19-20; Mk 16:15; Lk24:4-7; Acts 1:3) và Hội Thánh vẫn thường xuyên nhắc nhở chúng ta, đặc biệt là trong văn kiện “
Dõi theo ánh sao các nhà đạo sĩ đã mau mắn lên đường trong hy vọng tràn đầy. “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện” (Mt 2,2). Các nhà đạo sĩ sau khi gặp Hêrôđê,các Ngài đã ra đi và cũng ánh sao đó lại xuất hiện, dẫn lối chỉ đường cho các Ngài đến hang đá Bêlem tìm gặp Hài Đồng Giêsu. Tin Mừng viết rõ, các Ngài dâng Hài Đồng Giêsu những đặc sản quí giá của địa phương là vàng, nhũ hương và mộc dược (Mt 2, 11).
ÁNH SÁNG BỪNG LÊN CHIẾU RỌI, ĐÓ LÀ ĐỨC GIÊSU KITÔ:
Ngôn sứ Isaia viết: “Dân đang lần bước trong tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1). Ánh sáng chiếu soi là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Sao Hy Vọng cho muôn dân, muôn nước. Quả thật, từ khi ông bà Adam và Evà phạm tội, nhân loại chìm trong tối tăm của khổ đau và sự chết. Con người tưởng rằng không bao giờ có thể thoát khỏi bóng tối của đau khổ, của tối tăm, của sự chết. Nhân loại vì nguyên tổ phạm tội luôn dò dẫm, lần mò trong bóng tối tăm, mong chờ,mỏi mòn chờ mong ánh sáng cứu độ chiếu rọi nhân gian, soi chiếu thế giới. Ngôi Sao Hy Vọng,một Ngôi Sao lạ xuất hiện ở phương trời Đông, và sẽ không bao giờ lặn. Lễ Hiển Linh là lễ Con Thiên Chúa đến trần gian không chỉ dành riêng cho Dân Do Thái nhưng là tỏ mình cho mọi người, cho dân ngoại. Đại diện là ba nhà đạo sĩ trong đó có tất cả mọi người chúng ta. Ngộ giả Chúa là Ngôi Sao Hy Vọng, đã chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối của chúng ta thì Người cũng muốn mỗi người chúng ta phải trở thành những ánh sao soi chiếu người khác. Chúa luôn yêu thương, trung tín với con người dù cho con người thất trung, phản bội. Do đó, con người đừng bao giờ thất vọng về chính mình. Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Sao Hy Vọng đã không bao giờ làm ai thất vọng, chúng ta cũng đừng bao giờ để ai thất vọng vì chúng ta.
XIN CHO NGÔI SAO DẪN ĐƯỜNG CHO BA NHÀ ĐẠO SĨ PHƯƠNG ĐÔNG VẪN DẪN ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI GẶP CHÚA:
Ngôi sao xưa đã dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ Phương Đông đến gặp Chúa nơi hang đá Bêlem và rồi các nhà đạo sĩ đã gặp được Vua Trời Đất. Các Ngài vui mừng, phấn khởi. Tin Mừng không thấy ghi lại một câu nói nào của ba nhà đạo sĩ hay câu nói nào của Mẹ Maria hoặc thánh cả Giuse. Nhưng chúng ta có thể ngầm hiểu chính sự im lặng thánh của Mẹ Maria, của thánh cả Giuse và ngay sự im lặng của ba nhà đạo sĩ đã nói lên giờ phút linh thiêng Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại mà ba nhà đạo sĩ là đại diện mọi người. Sự im lặng thánh diễn tả việc các nhà đạo sĩ cung chiêm Chúa cả Trời Đất với tất cả lòng yêu mến, kính trọng và tin cậy của họ nơi Con Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã tỏ mình ra cho mọi dân tộc, Ngài đem an bình, hạnh phúc và ơn cứu độ đến cho mọi người. Chúa đã tỏ mình ra từ lâu nhưng thực tế còn biết bao người chưa nhận biết Chúa, còn biết bao người chưa thấy Ngôi Sao Hy Vọng dù rằng Ngôi Sao vẫn cứ luẩn quẩn trên bầu trời để dẫn đưa con người tìm gặp Chúa. Thế giới ngày nay văn minh, khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhưng còn biết bao người chưa nhận ra Ngôi Sao dẫn đường để tìm gặp Chúa. Ngôi sao xưa đã dẫn các nhà đạo sĩ phương Đông tìm ra được nơi Chúa sinh ra và họ đã cung chiêm, bái lạy Hài Đồng Giêsu. Xin cho Ngôi Sao xưa vẫn là Ngôi sao ngày nay đang dẫn mọi người đến với Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Ngôi Sao Hy Vọng, xin giúp nhiều người, mọi người nhận ra Chúa là Ngôi Sao Hy Vọng để tất cả như ba nhà đạo sĩ mau mắn đến thờ lạy Vua Giêsu. Xin cho chúng con trở thành những Ngôi Sao lạ để dẫn đường cho nhiều người tìm gặp Chúa. Amen.
THÔNG ĐIỆP GIÁNG SINH “URBI ET ORBI” CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI (2007)
“Một ngày thánh đã ló rạng trên chúng ta.
Hỡi muôn dân hãy đến thờ lạy Chúa.
Hôm nay, một ánh sáng huy hoàng đã đến trong thế gian”.
(Công Bố Tin Mừng – Thánh Lễ Ban Ngày)
Anh chị em thân mến!
“Một ngày thánh đã ló rạng trên chúng ta.” Một ngày của hy vọng lớn lao: ngày hôm nay Đấng Cứu Độ nhân loại đã sinh ra. Việc sinh ra của một em bé thường đem lại hy vọng cho những người đang nóng lòng mong đợi. Khi Chúa Giêsu sinh ra trong hang đá Bêlem, một “ánh sáng huy hoàng” đã xuất hiện trên thế gian; một niềm hy vọng lớn lao đã đi vào tâm hồn những người mong đợi Người: trong ngôn từ của Phụng Vụ Giáng Sinh, “lux magna.” Phải thú nhận rằngđó không phải là “huy hoàng” theo kiểu thế gian, bởi vì những người đầu tiên được xem thấy ánh sáng này là Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse và một số mục đồng, rồi sau đó là các Đạo Sĩ, ông già Simêon, và nữ ngôn sứ Anna: là những người mà Thiên Chúa đã tuyển chọn. Nhưng, trong bóng tối và sự yên lặng của đêm thánh ấy, một ánh sánh huy hoàng và không thể dập tắt được đã tỏa sáng trên mọi người; niềm hy vọng vĩ đại, là niềm hy vọng đem hạnh phúc, đã đi vào thế gian: “Ngôi Lời đã thành nhục thể và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người” (Ga 1:14).
Thánh Gioan nói rằng: “Thiên Chúa là ánh sáng, và trong Người không có một chút tối tăm nào” (1 Ga 1:5).Trong sách Sáng Thế Ký chúng ta đọc thấy rằng khi vũ trụ được tạo dựng, “trái đất không có hình dạng và trống rỗng, và bóng tối bao trùm mặt vực thẳm.” “Thiên Chúa phán, ‘Hãy có ánh sáng’; và có ánh sáng” (Stk 1:2-3). Lời tạo dựng của Thiên Chúa – Dabar trong tiếng Hypri, Verbum trong tiếng Latinh, Logos trong tiếng Hy Lạp – có nghĩa là Ánh Sáng, nguồn mạch sự sống. Tất cả đều được tạo thành nhờ Logos, không có một cái gì có sự hiện hữu mà không nhờ Ngài (xem Ga 1:3).Đó là lý do tại sao mọi tạo vật theo căn bản đều tốt lành và mang trong mình dấu ấn của Thiên Chúa, một tia sáng của Ngài. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu được sinh ra bởi Đức Nữ Trinh Maria, thì chính Ánh Sáng đã đi vào thế gian: theo lời trong Kinh Tin Kính, “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng”. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã nhận vào Mình cái không phải là Ngài, mà vẫn còn là Ngài: “Đấng Toàn Năng vào một thân xác em bé, nhưng không ngừng cai quản vũ trụ” (xem Thánh Augustinô, Sermo 184, Số 1 về Lễ Giáng Sinh). Đấng Tạo Dựng con người đã trở thành con người để đem lại bình an cho thế gian. Vì lý do này mà trong đêm Giáng Sinh, các đạo binh thiên sứ hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên chốn trời cao, và bình an dưới thế cho những người Chúa thương” (Lk 2:14).
“Hôm nay một ánh sáng huy hoàng đã xuống trên thế gian”. Ánh Sáng của Đức Kitô là ánh sáng mang bình an. Trong Thánh Lễ Nửa Đêm, Phụng Vụ Thánh Thể bắt đầu bằng bài hát này: “Ngày hôm nay bình an thật sự đã từ trời xuống với chúng ta” (Ca Nhập Lễ). Quả thật, đó là ánh sáng “cao cả” duy nhất được biểu lộ trong Đức Kitô có thể ban bình an “thật” cho con người: Đó là lý do tại sao mọi thế hệ đều được mời gọi đón chào ánh sáng này, đón chào Thiên Chúa là Đấng đã trở thành một người trong chúng ta tại Bêlem.
Ngày Giáng Sinh này - là biến cố lịch sử và mầu nhiệm tình yêu, là ngày hơn hai ngàn năm nay đã nói với mọi người nam nữ ở mọi thời đại và ở khắp nơi. Đó là ngày thánh mà trên đó “ánh sáng huy hoàng” của Đức Kitô đã tỏa sáng, mang theo hòa bình! Chắc chắn rằng, nếu chúng ta muốn nhận ra được ánh sáng này, nếu chúng ta muốn nhận được ánh sáng này, thì chúng ta cần phải có đức tin và lòng khiêm nhường. Lòng khiêm nhường của Đức Maria, là Đấng tin vào Lời Chúa và cúi mình xuống trước máng cỏ, là người đầu tiên thờ lạy con từ lòng mình; lòng khiêm nhường của Thánh Giuse, người công chính, là người đã có can đảm của đức tin và thà vâng lời Thiên Chúa còn hơn bảo vệ danh giá mình; lòng khiêm nhường của các mục đồng, những mục đồng nghèo khó và vô danh, là những người đã nhận được lời công bố của các sứ thần thiên quốc và đã vội vã đi đến hang đá, và ở đó họ đã tìm thấy Con Trẻ sơ sinh và thờ lạy Người, trong khi kinh ngạc, ca tụng Thiên Chúa (xem Lc 2:15-20). Những người bé nhỏ, những người có tinh thần nghèo khó: họ là những nhân vật chính của Lễ Giáng Sinh, trong quá khứ và trong hiện tại; họ luôn là những khuôn mặt chính trong lịch sử của Thiên Chúa, là những người xây dựng Vương Quốc công bình, bác ái và hòa bình của Ngài mà không biết mệt mỏi.
Trong bầu khí yên lặng của đêm ấy tại Bêlem, Chúa Giêsu đã sinh ra và đã được đón chào cách trừu mến. Và giờ đây, trong Ngày Lễ Chúa Giáng Sinh này, khi mà tin vui về việc Người sinh ra để cứu độ chúng ta vẫn còn vang vọng, ai là người sẵn sáng mở cửa lòng ra đón nhận Hài Nhi Thánh này? Hỡi mọi người nam nữ của thời hiện đại này, Đức Kitô cũng đến để mang ánh sáng của Người cho chúng ta, Người cũng đến để ban bình an cho chúng ta! Nhưng trong đêm tối đầy nghi ngờ và bất trắc, ai đang tỉnh thức với sự cảnh giác, với tâm hồn cầu nguyện?Ai có thì giờ để lắng nghe tiếng Người để được tình yêu của Người ấp ủ và thấm nhập vào? Phải, sứ điệp bình an của Người là cho mọi người; Người đến để hiến mình cho muôn dân như niềm hy vọng chắc chắn cho ơn cứu độ.
Sau cùng, nguyện xin ánh sáng của Đức Kitô, là Đấng đến để soi sáng mọi người, chiếu sáng và đem niềm an ủi cho những ai đang sống trong bóng tối của nghèo đói, bất công và chiến tranh; cho những ai mà những khát vọng chính đáng để có một đời sống đảm bảo hơn, có phương tiện y tế, giáo dục, công ăn việc làm vững chắc, được tham gia trọn vẹn hơn vào những trách vụ dân sự và chính trị, được giải thoát khỏi áp bức và được bảo vệ khỏi những điều kiện sống ngược với nhân phẩm, vẫn còn đang bị khước từ. Chính những thành phần yếu thế nhất của xã hội – các phụ nữ, trẻ em, và các người lớn tuổi – là những người thường dễ trở thành nạn nhân của những cuộc xung đột vũ trang, khủng bố và đủ loại bạo lực, là những gì tạo nên những đau khổ khủng khiếp cho toàn thể dân chúng. Đồng thời, các căng thẳng về chủng tộc, tôn giáo và chính trị, tình trạng bất ổn, xung đột, bất hòa, và đủ mọi hình thức bất công và kỳ thị đang phá hủy cơ cấu nội tại của nhiều quốc gia và làm rạn nứt những tương giao quốc tế. Trên khắp thế giới, số dân di cư, tị nạn và di tản cũng gia tăng vì những tai họa thiên nhiên xảy ra thường xuyên, thường do những thay đổi đột ngột về môi sinh gây ra.
Trong ngày hòa bình nay, tôi cũng đặc biệt nghĩ đến những người ở những nơi mà tiếng súng vẫn còn tiếp tục vang rền; đến những vùng đang bị khổ sở ở Darfur, Somalia, miền bắc nước Dân Chủ Cộng Hòa Côngô, biên giới giữa Eritrea và Êthiôpia; đến toàn thể vùng Trung Đông - nhất là Iraq, Libăng và Đất Thánh; đến A phú hãn, Hồi Quốc va Tích Lan, đến vùng Balkăng và nhiều trường hợp khủng hoảng mà tiếc thay thường bị quên lãng. Nguyện xin Hài Nhi Giêsu đem an ủi đến cho những người đang đau khổ và xin Người ban cho các nhà lãnh đạo chính trị ơn khôn ngoan và can đảm để tìm kiếm và tìm ra những giải pháp nhân đạo, công bằng và trường cửu. Với việc Hạ Sinh của Người, Đức Kitô – Thiên Chúa Thật và người thật - trả lời cho những ai đang khát khao ý nghĩa và giá trị rất đặc thù cho thế giới hôm nay, cho những ai đang tìm kiếm sự thịnh vượng và bình an đánh dấu đời sống của cả nhân loại, cho những hy vọng của người nghèo. Không một cá nhân hay dân tộc nào phải sợ khi nhìn nhận và đón nhận Người: với Người, “một ánh sáng huy hoàng” chiếu soi chân trời nhân loại; trong Người, “một ngày thánh” ló rạng mà không biết đến hoàng hôn. Nguyện xin Lễ Giáng Sinh này thực sự là ngày vui mừng, hy vọng và bình an cho mọi người.
“Hỡi muôn dân hãy đến và thờ lạy Chúa.” Thưa anh chị em từ mọi lục địa, cùng với Đức Maria, Thánh Giuse, và các mục đồng, cùng với các Đạo Sĩ và vô vàn vô số những người khiêm nhường thờ lạy Hài Nhi mới sinh, là những người qua bao kỷ nguyên đã đón chào mầu nhiệm Giáng Sinh, chúng ta cũng hãy để cho ánh sáng của ngày này lan tỏa khắp nơi: nguyện xin ánh sáng này đi vào tâm hồn chúng ta, nguyện xin ánh sáng này soi sáng và sưởi ấm các mái nhà của chúng ta, nguyện xin ánh sáng này mang lại thanh bình và hy vọng cho các thành phố của chúng ta, và nguyện xin ánh sáng này ban hòa bình cho thế giới. Đây là lời cầu chúc chân thành nhất của tôi cho tất cả những ai đang lắng nghe. Một lời cầu chúc trở thành một lời cầu nguyện khiêm nhường và tín thác vào Hài Nhi Giêsu, để ánh sáng của Người sẽ xua tan mọi bóng tối trong cuộc đời anh chị em và đổ tràn đầy tình yêu và bình an trong anh chị em. Nguyện xin Chúa, là Đấng đã làm cho dung nhan từ bi của Ngài chiếu tỏa trong Đức Kitô, đổ đầy hạnh phúc của Ngài trên anh chị em và làm cho anh chị em trở thành những sứ giả của sự tốt lành của Ngài. Chúc anh chị em một Lễ Giáng Sinh.
Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI
LỄ GIÁNG SINH LÀ TÁI XÁC NHẬN MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ
Vatican, ngày 19 tháng 12, năm 2007 – Trong buổi triểu yết chung hôm nay, buổi triều yết cuối cùng của năm 2007, được cử hành tại sảnh đường Phaolô VI, Đức Thánh Cha nói về Lễ Giáng Sinh như sau:
“Nếu Lễ Giáng Sinh một đàng là để kỷ niệm cách thần kỳ ngày sinh nhật của Con Một Thiên Chúa bởi Đức Trinh Nữ Maria trong hang Bê Lem, thì một đàng khác, cũng để khuyên nhủ chúng ta phải cách tỉnh thức và cầu nguyện mà mong đợi Đấng Cứu Chuộc chúng ta, là Đấng sẽ trở lại trong ngày sau hết để phán xét kẻ sống và kẻ chết.”
Đức Thánh Cha nói thêm cách bộc phát: “Dĩ nhiên là ngày nay chúng ta là các tín hữu thật sự tin vào Đấng Thẩm Phán; chúng ta mong chờ công lý. Chúng ta thấy quá nhiều bất công trên thế giới, … và chúng ta mong chờ công lý…. Chúng ta hy vọng rằng có một vị nào đó đến và có thể đem lại công lý. Trong phạm vi này chúng ta cầu mong rằng Đức Chúa Giêsu Kitô sẽ đến như Vị Thẩm Phán…. Chúa biết phải xuống thế gian thế nào để tạo ra công lý.”
“Mong đợi công lý theo nghĩa của Kitô giáo có nghĩa là … chúng ta bắt đầu sống dưới đôi mắt Vị Thẩm Phán,… tạo dựng công lý ngay trong đời sống chúng ta…. Bằng cách này chúng ta có thể mở thế giới ra đón chào Chúa Con đến và sửa soạn tâm hồn chúng ta để đón Chúa là Đấng phài đến.”
Trờ lại văn bản, Đức Thánh Cha nói: “Đấng được sinh ra bởi Đức Chúa Cha từ muôn thủa đã làm người trong lịch sử nhờ Mẹ Đồng Trinh. Con Thật của Thiên Chúa cũng trở thành Con Người thật. Ngày nay, trong thế giới bị tục hóa này, các quan niệm ấy xem như không còn giá trị bao nhiêu. Người ta thà không thèm đếm xỉa gì đến chúng hay coi chúng như không cần thiết cho đời sống, nại cớ là các chúng xảy ra quá xa xưa, và trên thực tế không thể phiên dịch chúng thành những lời hữu lý và có ý nghĩa được nữa.
“Hơn nữa, chúng ta được đào luyện trong quan điểm khoan dung và đa nguyên cho nên việc tin rằng Chân Lý thực sự đã tỏ lộ được coi là phạm đến sự khoan dung và sự tự do của con người. Tuy nhiên, nếu chân lý bị bãi bỏ, thì con người có phải là sinh vật bị tước đoạt mất ý nghiã không? Có phải chúng ta tự đẩy mình và thế giới vào chủ thuyết tương đối vô nghĩa không?”
Đức Thánh Cha tiếp: “Thật là quan trọng cho chúng ta khi củng cố mầu nhiệm cứu độ mà việc chúng ta cử hành lễ giáng sinh của Chúa Giêsu mang đến. Tại Bê Lem, Ánh Sáng đang chiếu dọi vào đời sống chúng ta được tỏ bày cho thế giới; chỉ cho chúng ta Con Đường đưa đền sự sung mãn của nhân tính của chúng ta. Nếu chúng ta không nhận ra rằng Thiên Chúa đã làm người, thì việc chúng ta cử hành Lễ Giáng Sinh có ý nghĩa gì không? Chúng ta, là các Kitô hữu, phải quả quyết bằng một xác tín sâu xa tận đáy lòng chân lý của Đức Kitô giáng sinh, để trở thành nhân chứng trước mặt mọi người về món quà độc nhất vô nhị đang đem lại sự giàu sang không những cho chúng ta mà cho mọi người.
“Từ đó, đưa đến nhiệm vụ truyền giáo, tức là thông truyền ‘eu-angelion’ là “Tin Mừng”. Điều này được nhấn mạnh trong văn kiện vừa được Thánh Bộ Đức Tin phát hành ‘Chú Thích về Tín Lý về một số phương diện của Phúc Âm Hoá”, mà Cha muốn trình bày để các con suy niệm và nghiên cứu kỹ lưỡng từng cá nhân hay từng nhóm.”
Đức Thánh Cha nói: “Trong những ngày dẫn đến Lễ Giáng Sinh này, Hội Thánh cầu nguyện nhiệt thành hơn cho việc những niềm hy vọng về hoà bình và cứu độ được thể hiện, là những điều mà thế giới hôm nay vẫn còn cần đến rất nhiều. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa làm cho bạo lực bị sức mạnh của tình yêu đánh bại, làm cho xung khắc nhường bước cho hòa giải, ước muốn thống trị đổi thành ước ao thứ tha, công lý và hoà bình. Xin cho những ước muốn tốt lành và yêu thường mà chúng ta trao đổi trong những ngày này đi vào mọi lãnh vực của đời sống hằng ngày của chúng ta.”
Đức Thánh Cha kết luận: “Nguyện xin sứ điệp đoàn kết và chấp nhận lẫn nhau nảy sanh từ Lễ Giáng Sinh góp phần vào việc tạo nên một ý thức sâu xa về những hình thức nghèo đói cũ và mới, và về công ích mà mọi người đều được mới gọi tham gia.”
Ngày 25 tháng 12, năm 2007
MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH
Nếu Lễ Giáng Sinh một đàng là để kỷ niệm cách thần kỳ ngày sinh nhật của Con Một Thiên Chúa bởi Đức Trinh Nữ Maria trong hang Bê Lem, thì một đàng khác, cũng để khuyên nhủ chúng ta phải cách tỉnh thức và cầu nguyện mà mong đợi Đấng Cứu Chuộc chúng ta, là Đấng sẽ trở lại trong ngày sau hết để phán xét kẻ sống và kẻ chết…
Đấng được sinh ra bởi Đức Chúa Cha từ muôn thủa đã làm người trong lịch sử nhờ Mẹ Đồng Trinh. Con Thật của Thiên Chúa cũng trở thành Con Người thật. Ngày nay, trong thế giới bị tục hóa này, các quan niệm ấy xem như không còn giá trị bao nhiêu. Người ta thà không thèm đếm xỉa gì đến chúng hay coi chúng như không cần thiết cho đời sống, nại cớ là các chúng xảy ra quá xa xưa, và trên thực tế không thể phiên dịch chúng thành những lời hữu lý và có ý nghĩa được nữa.
Hơn nữa, chúng ta được đào luyện trong quan điểm khoan dung và đa nguyên cho nên việc tin rằng Chân Lý thực sự đã tỏ lộ được coi là phạm đến sự khoan dung và sự tự do của con người. Tuy nhiên, nếu chân lý bị bãi bỏ, thì con người có phải là sinh vật bị tước đoạt mất ý nghiã không? Có phải chúng ta tự đẩy mình và thế giới vào chủ thuyết tương đối vô nghĩa không?
Thật là quan trọng cho chúng ta khi củng cố mầu nhiệm cứu độ mà việc chúng ta cử hành lễ giáng sinh của Chúa Giêsu mang đến. Tại Bê Lem, Ánh Sáng đang chiếu dọi vào đời sống chúng ta được tỏ bày cho thế giới; chỉ cho chúng ta Con Đường đưa đến sự sung mãn của nhân tính của chúng ta. Nếu chúng ta không nhận ra rằng Thiên Chúa đã làm người, thì việc chúng ta cử hành Lễ Giáng Sinh có ý nghĩa gì không? Chúng ta, là các Kitô hữu, phải quả quyết bằng một xác tín sâu xa tận đáy lòng chân lý của Đức Kitô giáng sinh, để trờ thành nhân chứng trước mặt mọi người về món quà độc nhất vô nhị đang đem lại sự giàu sang không những cho chúng ta mà cho mọi người.
ĐTC Bênêđictô XVI
TRUYỀN GIÁO VÀ LỄ GIÁNG SINH
“Không gì đẹp hơn là cho đi cách nhưng không những gì mình đã nhận được cách nhưng không”
VATICAN, Ngày 23 tháng 12, năm 2007 – Đây là bản dịch bài giảng trước Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha tại Công Trường Thánh Phêrô.
* * *
Anh chị em thân mến
Chúa nhựt thứ Bốn chỉ còn cách lễ Giáng sinh một ngày. Ngày mai, chúng ta sẽ tụ họp nhau để mừng mầu nhiệm trọng đại của tình yêu, mầu nhiệm sẽ không bao giờ ngừng gây ra sửng sốt: Thiên Chúa đã trở thành Con người, ngõ hầu chúng ta được trở nên con cái Chúa. Trong mùa Vọng, từ thâm tâm của Hội thánh, phát lên lời khẩn nài: “Lạy Chúa, xin hãy đến viếng thăm chúng con với bình an của Chúa, nguyện xin sự hiện diện của Chúa làm cho chúng con ngập tràn niềm vui”. Sứ mạng loan báo tin mừng của Hội thánh là tiếng đáp trả cho lời kêu van “Lạy Chúa Giêsu xin hãy đến!”, trải dài suốt lịch sử cứu độ và tiếp tục phát ra từ trên môi các tín hữu. Lạy Chúa, xin hãy đến để biến đổi trái tim chúng con, để cho công lý và hoà bình lan rộng khắp thế giới. Đây là chủ đích của văn kiện về Ghi chú đạo lý về một vài khía cạnh của việc loan báo Tin mừng do Bộ Giáo Lý mới phát hành. Thực vậy, trong hoàn cảnh hiện nay khi mà lắm lần nhiều tín hữu không còn ý thức rõ rệt về ý nghĩa của việc rao giảng Tin mừng, văn kiện muốn nhắc nhở cho các Kitô hữu rằng “việc tin nhận Tin mừng tự bản chất thúc gịuc hãy thông chia ơn cứu độ mà mình đã lãnh nhận như hồng ân (số 7).
Thật thế, “Chân Lý cứu độ sự sống – đã trở nên con người nơi Đức Giêsu – thắp lên trong tâm hồn kẻ nào đón nhận, tình yêu đối với tha nhân, thúc đẩy sự tự do hãy trao ban điều mà mình đã lãnh nhận” (ibid.). Việc cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa gần gũi chúng ta trong cuộc Giáng sinh, là một hồng ân vô giá. Hồng ân này có khả năng biến chúng ta được sống trong vòng ôm ấp đại đồng của những bạn hữu Chúa, trong “mạng lưới bằng hữu của Đức Kitô nối kết trời với đất”, vươn sự tự do của con người lên tới chỗ viên mãn, và một khi sống trong sự thật của nó, thỉ sẽ trổ sinh tình yêu trao ban không tính toán, quan tâm ưu ái đến điều tốt đẹp cho hết mọi người”. Không còn gì đẹp hơn, khẩn trương và quan trọng hơn là trao ban cho tha nhân điều mà mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. Không có gì chước chuẩn hoặc miễn trừ chúng ta khỏi trọng trách nặng nề và hấp dẫn này. Niềm vui lễ Giáng sinh mà chúng ta đang nếm trước, đang khi làm cho chúng ta tràn trề hy vọng, thì đồng thời cũng thúc đẩy chúng ta hãy loan báo cho mọi người sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa chúng ta.
Mẫu gương tuyệt vời của việc rao truyền Tin mừng là đức Trinh nữ Maria, kẻ đã trao ban cho thế giới không phải là một ý niệm, nhưng là đức Giêsu Ngôi Lời nhập thể. Chúng ta hãy tin tưởng nài xin Người, ngõ hầu Hội thánh thời nay cũng loan báo Chúa Giêsu là Đấng Cứu độ. Mong sao cho mỗi Kitô hữu và mỗi cộng đoàn hãy cảm thấy hân hoan vì được chia sẻ với tha nhân Tin Mừng về “Thiên Chúa đã quá yêu thế gian đên nỗi đã ban Con Một của Ngài … ngõ hầu thế gian được cứu độ nhờ Người” (Ga 3,16-17). Đây là ý nghĩa chân chính của lễ Giáng sinh, mà chúng ta cần phải tái khám phá và sống sâu đậm.
Vatican, ngày 19 tháng 12, năm 2007 – Trong buổi triểu yết chung hôm nay, buổi triều yết cuối cùng của năm 2007, được cử hành tại sảnh đường Phaolô VI, Đức Thánh Cha nói về Lễ Giáng Sinh như sau:
“Nếu Lễ Giáng Sinh một đàng là để kỷ niệm cách thần kỳ ngày sinh nhật của Con Một Thiên Chúa bởi Đức Trinh Nữ Maria trong hang Bê Lem, thì một đàng khác, cũng để khuyên nhủ chúng ta phải cách tỉnh thức và cầu nguyện mà mong đợi Đấng Cứu Chuộc chúng ta, là Đấng sẽ trở lại trong ngày sau hết để phán xét kẻ sống và kẻ chết.”
Đức Thánh Cha nói thêm cách bộc phát: “Dĩ nhiên là ngày nay chúng ta là các tín hữu thật sự tin vào Đấng Thẩm Phán; chúng ta mong chờ công lý. Chúng ta thấy quá nhiều bất công trên thế giới, … và chúng ta mong chờ công lý…. Chúng ta hy vọng rằng có một vị nào đó đến và có thể đem lại công lý. Trong phạm vi này chúng ta cầu mong rằng Đức Chúa Giêsu Kitô sẽ đến như Vị Thẩm Phán…. Chúa biết phải xuống thế gian thế nào để tạo ra công lý.”
“Mong đợi công lý theo nghĩa của Kitô giáo có nghĩa là … chúng ta bắt đầu sống dưới đôi mắt Vị Thẩm Phán,… tạo dựng công lý ngay trong đời sống chúng ta…. Bằng cách này chúng ta có thể mở thế giới ra đón chào Chúa Con đến và sửa soạn tâm hồn chúng ta để đón Chúa là Đấng phài đến.”
Trờ lại văn bản, Đức Thánh Cha nói: “Đấng được sinh ra bời Đức Chúa Cha từ muôn thủa đã làm người trong lịch sử nhờ Mẹ Đồng Trinh. Con Thật của Thiên Chúa cũng trở thành Con Người thật. Ngày nay, trong thế giới bị tục hóa này, các quan niệm ấy xem như không còn giá trị bao nhiêu. Người ta thà không thèm đếm xỉa gì đến chúng hay coi chúng như không cần thiết cho đời sống, nại cớ là các chúng xảy ra quá xa xưa, và trên thực tế không thể phiên dịch chúng thành những lời hữu lý và có ý nghĩa được nữa.
“Hơn nữa, chúng ta được đào luyện trong quan điểm khoan dung và đa nguyên cho nên việc tin rằng Chân Lý thực sự đã tỏ lộ được coi là phạm đến sự khoan dung và sự tự do của con người. Tuy nhiên, nếu chân lý bị bãi bỏ, thì con người có phải là sinh vật bị tước đoạt mất ý nghiã không? Có phải chúng ta tự đẩy mình và thế giới vào chủ thuyết tương đối vô nghĩa không?”
Đức Thánh Cha tiếp: “Thật là quan trọng cho chúng ta khi củng cố mầu nhiệm cứu độ mà việc chúng ta cử hành lễ giáng sinh của Chúa Giêsu mang đến. Tại Bê Lem, Ánh Sáng đang chiếu dọi vào đời sống chúng ta được tỏ bày cho thế giới; chỉ cho chúng ta Con Đường đưa đền sự sung mãn của nhân tính của chúng ta. Nếu chúng ta không nhận ra rằng Thiên Chúa đã làm người, thì chúng ta cử hành Lễ Sinh Nhật có ý nghĩa gì không? Chúng ta, là các Kitô hữu, phải quả quyết bằng một xác tín sâu xa tận đáy lòng chân lý của Đức Kitô giáng sinh, để trờ thành nhân chứng trước mặt mọi người về món quà độc nhất vô nhị đang đem lại sự giàu sang không những cho chúng ta mà cho mọi người.
“Từ đó, đưa đến nhiệm vụ truyền giáo, tức là thông truyền ‘eu-angelion’ là “Tin Mừng”. Điều này được nhấn mạnh trong văn kiện vừa được Thánh Bộ Đức Tin phát hành ‘Chú Thích về Tín Lý về một số phương diện của Phúc Âm Hoá”, mà Cha muốn trình bày để các con suy niệm và nghiên cứu kỹ lưỡng từng cá nhân hay từng nhóm.”
Đức Thánh Cha nói: “Trong những ngày dẫn đến Lễ Giáng Sinh này, Hội Thánh cầu nguyện nhiệt thành hơn cho việc những niềm hy vọng về hoà bình và cứu độ được thể hiện, là những điều mà thế giới hôm nay vẫn còn cần đến rất nhiều. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa làm cho bạo lực bị sức mạnh của tình yêu đánh bại, làm cho xung khắc nhường bước cho hòa giải, ước muốn thống trị đổi thành ước ao thứ tha, công lý và hoà bình. Xin cho những ước muốn tốt lành và yêu thường mà chúng ta trao đổi trong những ngày này đi vào mọi lãnh vực của đời sống hằng ngày của chúng ta.”
Đức Thánh Cha kết luận: “Nguyện xin sứ điệp đoàn kết và chấp nhận lẫn nhau nảy sanh từ Lễ Giáng Sinh góp phần vào việc tạo nên một ý thức sâu xa về những hình thức nghèo đói cũ và mới, và về công ích mà mọi người đều được mới gọi tham gia.”
Hôm Nay Ðấng Cứu Thế Ðã Giáng Sinh Cho Chúng Ta
Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Lời loan báo Chúa Giáng Sinh vang lên đêm nay, lời loan báo xa xưa và luôn mới mẻ. Lời loan báo vang lên cho những ai đang tỉnh thức, cho những mục đồng tại Bêlem cách đây 2,000 năm, nó vang lên cho những ai đang sống theo đòi hỏi của Mùa Vọng, và một khi đã tỉnh thức trong đợi chờ, sẵn sàng đón nhận sứ điệp vui mừng được hát lên trong Thánh Lễ hôm nay: "Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta".
Dân Kitô đang tỉnh thức, toàn thể thế giới đang tỉnh thức trong đêm Giáng Sinh này. Trong những ngày này, dường như Giáo Hội không bao giờ ngừng lặp lại rằng:"Hôm nay Ðấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta". Lời rao giảng này có tích chứa sức mạnh không bao giờ cạn để canh tân, nó vang dội trong Ðêm Thánh này một cách mạnh mẽ đặc biệt. Ðây là Giáng Sinh của đại năm thánh, kỷ niệm sống động của hai ngàn năm của Chúa Kitô, kỷ niệm cuộc sinh hạ kỳ diệu, một biến cố đã ghi dấu điểm khởi đầu mới của lịch sử. "Ngày hôm nay Ngôi Lời đã làm người và sống giữa chúng ta".
Ngày hôm nay trong đêm cực thánh này, thời gian được mở ra đến cõi đời đời, bởi vì Ngài, Lạy Chúa Kitô, Ngài đã từ trời cao mà sinh xuống giữa chúng con. Ngài sinh xuống trần gian từ cung lòng của một người nữ đã được chúc phúc hơn mọi người nữ. Ngài là con của Ðấng Tối Cao, sự thánh thiện của Ngài đã thánh hóa thời gian của chúng con một lần vĩnh viễn luôn mãi, những ngày tháng, những thế kỷ, những ngàn năm. Với sự Giáng Sinh của Ngài, Ngài đã làm cho thời gian trở thành cái hôm nay của ơn cứu rỗi.
Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Ðêm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm Bêlem, mầu nhiệm của một đêm đặc biệt cách nào đó nằm trong thời gian vừa đồng thời vượt qua thời gian, trong cung lòng của Ðức Nữ Ðồng Trinh một Con Trẻ đã sinh ra, một máng cỏ đã trở thành cái nôi cho Ðấng là sự sống đời đời.
Lễ Giáng Sinh là lễ của sự sống, bởi vì Ngài, Lạy Chúa Giêsu, khi đến trong thế gian như một người trong chúng con, Ngài đã chúc phúc cho giờ Ngài đã sinh ra, một giờ nói lên cách tượng trưng cho mầu nhiệm của cuộc sống con người, vừa liên kết những đau khổ của sự sinh hạ với niềm hy vọng, liên kết đau khổ với niềm vui. Tất cả những điều này đã xảy ra tại Bêlem, một người mẹ đã sinh con, một con người đã sinh ra trong trần gian, đó là con người, đó là mầu nhiệm của Bêlem.
Với niềm cảm xúc trong tâm hồn, tôi nghĩ lại những ngày hành hương năm Thánh của tôi bên Thánh Ðịa, tâm trí tôi trở lại với hang đá nơi tôi được dịp dừng lại cầu nguyện. Tôi hôn kính trong tinh thần, hôn kính miền đất được chúc phúc kia nơi phát sinh niềm vui không bao giờ tàn cho thế giới. Tôi lo âu cho những nơi Thánh và đặc biệt là thành Bêlem nơi mà buồn thay vì hoàn cảnh chính trị khó khăn không thể nào diễn ra Lễ Nghi Giáng Sinh với sự long trọng như mọi khi. Tôi mong muốn sao cho trong đêm nay, những cộng đoàn Kitô tại đó cảm thấy được tình liên đới tràn đầy của toàn thể Giáo Hội đối với họ.
Thưa anh chị em rất thân mến tại Bêlem,
Chúng tôi gần gũi với anh chị em với lời cầu nguyện thật sốt sắng. Cùng với anh chị em, chúng tôi rung động vì số phận của toàn vùng Trung Ðông.
Nguyện xin Thiên Chúa lắng nghe lời chúng ta khẩn cầu. Ước chi từ quảng trường này, trung tâm của thế giới Công Giáo được vang lên một lần nữa với sức mạnh được canh tân, vang lên lời loan báo của các thiên thần, của các mục đồng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao và hòa bình dưới thế cho mọi người được Chúa yêu thương".
Niềm hy vọng của chúng ta không thể nào bị lung lay, cũng như không thể nào thiếu đi sự khâm phục những gì chúng ta đang cử hành. Ngày hôm nay, Ðấng ban hòa bình cho thế gian Giáng Sinh. Hôm nay Ðấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta. Ngôi Lời nằm khóc trong máng cỏ, Ngài được gọi là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa Cứu Rỗi, bởi vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi mọi tội lỗi.
Không phải trong một lâu đài mà Ðấng Cứu Chuộc sinh ra, Ðấng có sứ mạng thiết lập lại Vương Quốc đời đời và phổ quát. Ngài sinh ra trong một chuồng loài vật và sống giữa chúng ta, Ngài thắp lên trong thế giới ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa và ngọn lửa này sẽ không bao giờ tắt. Ước chi ngọn lửa này cháy lên trong các tâm hồn như một ngọn lửa tình bác ái hữu hiệu, tình bác ái trở thành sự tiếp đón, nâng đỡ cho biết bao anh chị em bị thử thách bởi sự nghèo cùng và đau khổ.
Lạy Chúa Giêsu mà chúng con chiêm ngắm trong cảnh nghèo hèn tại Bêlem, xin hãy làm cho chúng con trở nên những chứng nhân của tình yêu Chúa, của tình yêu đã thôi thúc Ngài cởi bỏ vinh quang của Thiên Chúa để sinh ra sống giữa con người và chịu chết vì chúng con, xin Ngài hãy đổ vào chúng con Thánh Thần của Ngài, ngõ hầu ân sủng của mầu nhiệm Nhập Thể khơi dậy nơi mỗi tín hữu sự dấn thân góp sức cách quảng đại hơn, phù hợp hơn với sự sống mới do Bí Tích Rửa Tội trao ban. Xin hãy làm cho ánh sáng của đêm hôm nay sáng hơn ban ngày, chiếu sáng trên tương lai và hướng dẫn những bước tiến của nhân loại trên con đường hòa bình.
Ðức Thánh Cha kết thúc bài giảng của Ngài với lời nguyện:
Lạy Chúa, Hoàng Tử của Hòa Bình, Ðấng Cứu Chuộc đã Giáng Sinh vì chúng con, xin hãy đồng hành với Giáo Hội Chúa trên con đường đang mở ra dẫn đưa Giáo Hội bước vào ngàn năm mới.
(Bài giảng Lễ Giáng Sinh của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II)