Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2008

Lễ Chúa Thăng Thiên – Năm A

Ngày 4 Tháng 5, Năm 2008

Lễ Chúa Thăng Thiên – Năm A

Hãy Đi Làm Cho Muôn Dân Thành Môn Đệ

Trước khi về trời Chúa đã truyền cho các môn đệ: "Hãy đi làm cho muôn dân thành môn đệ." Mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền cho chúng ta hôm nay cấp bách hơn bao giờ hết , bởi vì ngày nay người ta biết đến Chúa Giêsu rất nhiều, nhưng theo Chúa thì ít. Mà trong số những người theo Chúa thì cũng chẳng có bao nhiêu người thật sự là môn đệ Chúa. Nhiều người theo Chúa bề ngoài, nhưng trong lòng lại tôn thờ tiền tài, danh vọng và cả cái bụng của mình. Vậy chúng ta phải làm gì để có thể thật sự giúp cho người khác trở thành môn đệ Chúa để làm tròn sứ mạng mà Chúa trao cho mỗi người chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay?

1. Trước hết chúng ta phải là những môn đệ đích thực của Chúa.

Thật khó mà làm cho người khác thành môn đệ của Chúa nếu chúng ta không thật sự biết Chúa, yêu mến Chúa và đi theo đường của Chúa như một môn đệ đích thực. Làm một môn đệ thật khác với làm một học trò. Người học trò chỉ cần học những gì thầy dạy để theo đuổi mục đích riêng của mình. Người môn đệ phải đi theo thầy từng giây phút trong đời mình và phải theo đuổi cùng một mục đích như thầy mình. Muốn làm môn đệ Chúa thì người môn đệ phải học để mỗi ngày một nên giống Chúa hơn bằng cách thay đổi cách sống của mình cho rập khuôn với cách sống của Đức Kitô. Người môn đệ phải hy sinh cho những người mình phục vụ như Đức Kitô đã hy sinh cho mình, và nếu cần thì phải sẵn sàng chết như Đức Kitô để những người mình phục vụ được sống.

2. Muốn thành môn đệ cần rất nhiều cố gắng

Ở thời đại mà trào lưu xã hội đi cùng chiều với Tin Mừng thì làm môn đệ Chúa rất dễ. Nhưng ở thời đại "lội ngược dòng" như thời đại chúng ta, làm môn đệ Chúa thật sự khó khăn. Tôi không muốn người khác nghĩ là tôi lập dị, nên đôi khi tôi cũng phải làm giống họ, hay ít ra nói vuốt đuôi họ, để họ khỏi tẩy chay tôi. Có những linh mục sợ nói thẳng vì sợ mất lòng giáo dân. Có những Giáo Lý viên mập mờ về vấn đề luân lý, vì không biết, hay vì sợ... mất lòng học trò.... Nếu tôi làm như thế thù tôi chưa thật sự là môn đệ Chúa thì làm sao tôi có thể làm cho muôn dân thành môn đệ được?

Một khó khăn mà tất cả chúng ta đều gặp là chúng ta cũng bận rộn với sinh kế. Là Giáo Lý viên, tôi không làm việc toàn phần cho Chúa như các Linh Mục hay Tu Sĩ, vậy tôi làm sao có thể chu toàn cả bôn phận trần thế lẫn bổn phận truyền giáo của tôi? Muốn biết về Chúa thì tôi phải có giờ học về Chúa. Muốn làm giống Chúa thì tôi phải có giờ tìm hiểu xem Chúa đã làm gì. Muốn nên giống Chúa thì tôi phải có giờ linh thao. Mà tôi là giáo dân, làm việc ờ sở ít ra tám tiếng một ngày, còn phải đi công tác xa xôi, lái xe, cắt cỏ, mua sắm, nấu nướng, dạy con cái học hành và giải trí, thì tôi làm sao có giờ để học đòi làm môn đệ Chúa?

Nếu nhìn lại các môn đệ đầu tiên của Chúa, các ngài cũng phải lo sinh kế như chúng ta. Ngay cả Thánh Phaolô là tông đồ dân ngoại cũng phải làm nghề may lều để sinh sống. Nếu Chúa cho người ta đủ mọi dễ dãi để làm môn đệ Chúa thì Người đ ã không cần đến chúng ta. Chúa muốn chúng ta sống và theo Chúa trong hoàn cảnh thường của chúng ta. Tuy khó khăn đấy, nhưng với ơn Chúa và một lòng tín thác vào Chúa, chúng ta chắc chắn sẽ lảm được.

3. Chúng ta không những rao giảng bằng lời nói mà còn bằng việc làm.

Cha ông chúng ta có một câu nói rất hay: "Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo!"

Chúa muốn chúng ta theo Chúa trong khi phải đương đầu với những khó khăn trong đời sống thường nhật để khám phá ra những phương thế theo Chúa hữu hiệu mà người khác có thể học được bằng cách theo gương chúng ta. Thánh Phaolô đã không kêu gọi các giáo hữu làm môn đệ Đức Kitô mà Ngài thường xuyên nhắc nhở họ: "anh chị em hãy theo gương tôi như tôi theo gương Đức Kitô" (1 Cor 11:1; x. 1Cor 4:16; Phil 3:17; 1 Thes 1:6; 2 Thes 3:7; 3:9). Nói như thế có phải quá tự hào không? Thưa không, bởi vì người ta không thể theo gương Chúa vì không thấy Chúa, nhưng người ta dễ dàng theo gương các linh mục, các tu sĩ, các Giáo Lý viên và phụ huynh. Mặc dù chúng ta chưa hoàn thiện, nhưng nếu cố gắng làm tất cả vì Chúa thì chúng ta sẽ trở nên gương sáng cho người khác noi theo. Họ sẽ bắt chước cách chúng ta chiến đấu với xác thịt, với cám dỗ và những áp lực xấu xa trong đời sống. Họ sẽ học theo cách chúng ta đối xử với tha nhân và cách chúng ta sống theo Đức Kitô, ể rồi họ sẽ nên giống chúng ta. Nếu chúng ta giống Đức Kitô nhiều, thì họ cũng giống Đức Kitô nhiều. Và ngược lại....

Tóm Lại

Chỉ có một cách duy nhất để giúp người khác trở thành môn đệ Chúa là chính chúng ta phải là những môn đệ chân chính và trung thành của Chúa. Từ đó gương sáng của chúng ta sẽ trợ lực cho những lời chúng ta nói với người khác về Chúa và làm cho họ trở thành môn đệ của Chúa.

Lạy Chúa, xin ban ơn Thánh Thần của Chúa trên con để con biết quên mình đi theo Chúa trong từng giây phút của đời con, ngõ hầu làm gương cho những người Chúa trao phó cho con dẫn dắt trên con đường làm môn đệ Chúa. Amen.

Thứ Tư, 30 tháng 4, 2008

Hay cho toi y nghia cuoc song va toi se song

Học hỏi kinh nghiệm c ủa c ác bạn trẻ trên thế giới:

“Hãy cho tôi ý nghĩa cuộc sống và tôi sẽ sống!”

Có lẽ các Salêdiêng Don Bosco (các Cha các Thầy Salêdiêng Don Bosco) khi gặp gỡ người trẻ thường hay hỏi đến tình hình công việc, học hành, gia đình và các mối bận tâm của họ một cách chung chung. Đó là cách tiếp cận thông thường và bằng cách này chúng ta có thể hiểu tâm tư người trẻ. Tuy nhiên nhiều nơi và nhiều lúc khác nhau các bạn trẻ không cảm thấy “an tâm” vì ngay chính bản thân họ nghĩ rằng mình không có vấn đề, hoặc “chuyện cần nói” có tính cách tế nhị, và người trẻ không muốn nói ra. Có lẽ chỉ với những ai họ tin tưởng thì người trẻ mới tâm sự.

Không ít các trường hợp người lớn cảm thấy mình khó xử hay thiếu chuẩn bị để trả lời các thắc mắc của người trẻ. Đôi khi câu trả lời của người lớn lại trở nên xa lạ và không thể hiểu được. Phải chăng các bạn trẻ cần một thứ ngôn ngữ của họ? Họ cần chứng tá của những người cùng lứa tuổi, cùng sống trong một hoàn cảnh tương tự mình mà có những kinh nghiệm riêng biệt khác mình.

Nhận thấy nhu cầu này, trong các giờ sinh hoạt nhóm, nhiều salêdiêng đã giúp các bạn trẻ chia sẻ tâm tư và những quan niệm của người trẻ về cuộc sống.

Họ đặt vấn đề bằng cách đưa ra một số câu hỏi gợi ý, chẳng hạn: Bạn có suy nghĩ gì về cuộc sống? Thế nào là sống có ý nghĩa? Sự thành công, tiền bạc, lạc thú, quyền lực có thể là ý nghĩa đích thực của cuộc sống? Tình yêu làm cho cuộc sống có nghĩa hơn, và chỉ cần tình yêu nhân loại là đủ để sống có ý nghĩa, bạn nghĩ thế nào? Cái chết là kết thúc sau cùng của kiếp người, như vậy cuộc sống có ý nghĩa không?...

Qua các gợi ý này, người trẻ thảo luận và trình bày cho người khác nghe suy nghĩ của mình. Chúng ta có thể hiểu thêm thế giới của họ qua những chia sẻ thẳng thắn từ nhiều khoé nhìn khác nhau về cuộc sống.

Một số bạn trẻ tỏ ra “vô tư” và không mấy quan tâm đến chuyện suy nghĩ về ý nghĩa cuộc sống hay sống làm sao cho có ý nghĩa. Họ chia sẻ như sau:

- “ Với tôi ý nghĩa cuộc sống là SỐNG, đơn giản vậy thôi”.

- “Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện này. Tôi còn trẻ và còn nhiều thời gian để sống hoặc tìm một ý nghĩa nào đó để sống. Tôi hy vọng là sau này tôi sẽ tìm thấy một ý nghĩa đích thực và đúng đắn cho cuộc sống của mình”.

- “Tôi không có một ý tưởng cố định về chuyện này. Hôm nay tôi nghĩ đến một mục tiêu; ngày mai, có lẽ tất cả sẽ thay đổi”.

Một số bạn trẻ khác thì có thái độ “nghi ngờ” về cách đặt vấn đề tại sao lại cần ý nghĩa để sống. Cũng dể hiểu thái độ của họ, vì khi người ta sống trong hoàn cảnh xã hội đa dạng của chủ nghĩa tương đối, của tự do cá nhân quá trớn, của chủ nghĩa hư vô, việc tìm cho mình một định hướng sống không phải là dễ dàng. Đây là những chia sẻ của các bạn trẻ:

- “Tôi thấy rằng phần đông không có một mục tiêu để sống, họ chỉ sống cho qua ngày. Người ta không có cơ hội dừng lại và tự hỏi vì sao mình hành động như thế. Người ta sống chỉ vì được sống. Một ai đó có thể nói với tôi: Bạn nên làm điều này, hoặc nên làm điều kia trong những trường hợp cụ thể nào đó, nhưng rốt cuộc họ không biết vì sao. Và tôi tự hỏi có tồn tại một ý nghĩa nào chung cho tất cả mọi người không? Người ta có thể sống mà không cần đến một mục tiêu nhất định và sau cùng chăng?”.

- “Tại sao chúng ta hiện hữu? Để thăng tiến ư? Mà thăng tiến gì cơ chứ? Làm sao có thể có chuyện “kiến giết voi”! Tôi khóc cho cái thế giới đói khát này, khóc cho cuộc đời mình. Tôi không thể giả vờ vui vẻ, giả vờ hạnh phúc. Tôi không tin là có sự hạnh phúc; hạnh phúc không thuộc về thế giới này. Hạnh phúc chỉ là một thứ hy vọng hão huyền”.

- “Tôi mệt mỏi lắm rồi vì trò đùa nghiệt ngã của cuộc đời. Tôi nhớ nụ hôn của Paola, bởi vì tôi chỉ còn lại duy nhất kỷ niệm ấy. Bánh xe vận tải đã cướp mất cuộc đời người tôi yêu khi cô ấy vừa tròn 16 tuổi”.

Có bạn trẻ “trăn trở” thực sự về cuộc sống và muốn tìm kiếm một giá trị để sống.

- “Tôi thấy mình cần một sức mạnh để đạp đổ bức tường ngăn cản tôi sống, để tôi sống khác mình bây giờ: cô đơn, thất vọng, không muốn tin tưởng một ai cả, không có mục tiêu, lý tưởng. Tôi không sống thực là mình, tôi đang sống như cỏ cây. Tôi cần một ý nghĩa đích thực để sống và tôi đang day dứt tìm kiếm nó. Cứ mỗi ngày trôi qua với cuộc sống vô nghĩa, tôi cảm thấy mình đánh mất một ngày”.

Một số khác có niềm tin thì suy nghĩ khác hơn. Với họ cuộc sống mang một sắc màu khác. Có thể niềm tin cho người ta một chút hy vọng và một định hướng sống cũng như sức mạnh để vượt qua những khá khăn nhất định.

- “Tôi được 17 tuổi và thời gian trôi qua phần lớn là ở nhà và ở trường. Tôi hiểu rằng mình vẫn còn non trẻ. Tôi tin vào Chúa nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc dâng hiến đời mình để phục vụ Chúa Kitô và yêu thương mọi người. Tôi tin là Thiên Chúa luôn ở với tôi ngay cả khi tôi không có ý thức về Người. Tôi luôn tìm cách để sống và hành động một cách cụ thể, trong sự sẵn sàng, bởi vì ngày Chúa lại đến không phải là “chuyện bên lề cuộc đời”.

- Tôi vừa tròn 14 tuổi. Chỉ ít thời gian trước đây thôi, cuộc sống đối tôi thật kinh khủng. Mọi người xua đuổi và chối từ tôi. Cuộc đời tôi chỉ đầy những thứ ngu xuẩn và tôi là một kẻ vô thần. Cuộc sống tôi thay đổi từ khi tôi tìm kiếm và gặp được Thiên Chúa. Tôi muốn nói với những ai nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa rằng: Bạn hãy tự vấn lòng mình: phải chăng thế giới tuyệt đẹp này tự nhiên mà có? Không, bạn thân mến! Có bàn tay của một “Ai đó” làm nên tất cả, và đã điểm tô cho thế giới này một tạo vật hoàn hảo giữa mọi tạo vật – con người!”.

- “ Với tôi cuộc sống có một sức mạnh lớn lao…Cuộc sống là suy tư, tâm sự, cảm xúc. Cái chết không tồn tại và không ý nghĩa gì để chỉ nói đến nó. Con người sợ cái chết và tìm cách chạy trốn nó. Nhưng cuộc sống là tất cả, kể cả những xung đột giữa thiện và ác, tình yêu và hận thù, hạnh phúc và đau khổ… Và chính vì điều này mà cuộc sống mang nét hào hùng tuyệt vời”.

- “Các bạn hãy suy nghĩ xem, ngoài sự đau khổ chúng ta còn nhiều điều khác hay hơn và đáng sống: Ta có thể ra đường gặp gỡ bạn bè, lắng nghe một đĩa nhạc, hát một ca khúc, làm một bài thơ, lên giường nằm ngủ với hàng ngàn suy nghĩ thú vị; và nếu cần hãy khóc đi nếu bạn cảm thấy buồn, cô đơn và bị bỏ rơi. Dù sao đi chăng nữa chúng ta vẫn sống một cách mạnh mẽ”.

Một ai đó đã nói rằng: “Cuộc sống không có mục đích là một cái chết trước kì hạn”. Các suy tư của người trẻ giúp chúng ta nhận ra rằng dù thế này hay thế khác, cuối cùng người ta vẫn cần một lý do để sống. Tôi bổng dưng chợt nghĩ: nếu một bạn trẻ nào đó hỏi tôi rằng anh có lý do để sống không; anh có thể giúp tôi tìm một ý nghĩa đích thực để sống không, tôi sẽ trả lời sao đây? Hình như mình vẫn chưa tìm ra một thứ ngôn ngữ thích hợp với thời đại và vẫn còn cảm thấy “thiếu chuẩn bị”. Cần thiết phải có một nổ lực không ngừng trong việc tìm kiếm và sống ý nghĩa đích thực của cuộc đời mình. Cần thiết phải có sự kiên nhẫn vậy.

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2008

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2008

Chúa Nhật VI Phục Sinh – Năm A

Ngày 27 Tháng 4, Năm 2008

Chúa Nhật VI Phục Sinh – Năm A

Sự Sống Mới

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga. 14, 15-21

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, thì Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.

Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sáng suốt của lý trí. Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.

Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi Người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.

Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em Thần Chân Lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người”. Cũng như kiến thức y khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc của nhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những loài cây cỏ, Tin và Yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.

Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.

Với đức tin và tình yêu, người môn đệ Chúa không còn thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật. Với đức tin và tình yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dẫn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.

Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như lời Chúa Giêsu nói: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến”.

Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta. Ở trong người nào tức là được người ấy yêu thương. Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lãnh sự sống. Nhờ Tin và Yêu, ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung mãn, sự sống vĩnh cửu.

Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi”. Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nhìn thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi. Ai đóng cửa tình yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc. Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và tình yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như thế việc ra đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà còn ích lợi cho ta. Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sung mãn, sự sống dồi dào.

Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đã hứa, ta hãy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các giới răn của Thầy”. Đức tin được thể hiện bằng tình yêu. Tình yêu được chứng minh qua hành động. Đó là chìa khoá của đời sống Kitô hữu.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Theo bạn, tình yêu mến Chúa là những tình cảm bồng bột hay những việc làm cụ thể theo lý trí?

2) Có bao giờ bạn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống không?

3) Bạn có cố gắng làm chứng cho người khác về sự hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và bác ái của bạn không?

Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2008

NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI

NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
13-04-2008
Ơn Gọi: Phục vụ Giáo Hội - Truyền Giáo


GỢI Ý TÌM HIỂU.

1 - Giáo Hội là thừa sai trong toàn bộ và trong mỗi phần tử của mình. Nếu, do bí tích Rửa tội và Thêm sức, mỗi tín hữu Kitô được kêu gọi làm chứng tá và rao giảng Tin Mừng, thì chiều kích truyền giáo càng được gắn liền với ơn gọi Linh Mục một cách đặc biệt và thâm sâu hơn. Tại sao? (1)

2 - Tin Mừng theo thánh Mathêu, thường được gọi là “diễn văn truyền giáo”, chúng ta nhận thấy tất cả các khía cạnh nói lên đặc tính hoạt động truyền giáo của một cộng đồng Kitô, muốn trung thành với mẫu gương và giáo huấn của Chúa Giêsu. Vậy mẫu gương truyền giáo của Chúa Giêsu như thế nào? (2)

3 - Điều kiện và yếu tố Chính để được gọi là Tông Đồ và những thừa sai rao giảng Tin Mừng? (3,4&5)

4 – Ngày hôm nay theo bạn biết có những hoạt động nào gọi là Truyền Giáo. (6)

5 – Trong tình trạng khủng hoảng Ơn Gọi hiện nay, chúng ta làm gì theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha, để ngày càng có nhiều người bước theo đường ơn gọi? (7&8)

SỨ ÐIỆP CỦA ÐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐITÔ XVI CHO NGÀY QUỐC TẾ LẦN THỨ 45 CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
CHÚA CHIÊN LÀNH ( 13/4/2008 )

Chúa nhật thứ 4 sau Phục Sinh: 13-4-2008

Chủ đề: "Ơn gọi: Phục vụ Giáo hội - Truyền giáo”

Anh chị em thân mến!

1. Tôi đã chọn đề tài ”Ơn gọi: Phục vụ Giáo Hội- Truyền giáo" cho Ngày Thế Giới cầu cho ơn gọi sẽ được cử hành ngày 13-4-2008 . Chúa Giêsu phục sinh đã ủy thác cho các Tông Đồ mệnh lệnh: ”Vậy các con hãy đi giảng dạy tất các các dân nước, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19), và Ngài hứa với họ: ”Này đây Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Giáo Hội là thừa sai trong toàn bộ và trong mỗi phần tử của mình. Nếu, do bí tích Rửa tội và Thêm sức, mỗi tín hữu Kitô được kêu gọi làm chứng tá và rao giảng Tin Mừng, thì chiều kích truyền giáo càng được gắn liền với ơn gọi Linh Mục một cách đặc biệt và thâm sâu hơn. Trong giao ước với Israel, Thiên Chúa đã ủy thác sứ mạng làm ngôn sứ và tư tế cho những người được Ngài tuyển chọn, kêu gọi và gửi tới toàn dân nhân danh Ngài. Ví dụ Chúa đã làm như thế với Môisê: Yahvê nói với ông: ”Giờ đây ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến gặp Pharaon. Ngươi hãy đưa dân Ta ra khỏi Ai Cập.. sau khi ngươi đã đưa dân ra khỏi Ai Cập, các ngươi sẽ phụng sự Thiên Chúa trên núi này” (Xh 3,10.12). Chúa cũng làm như vậy với các ngôn sứ.

2. Những lời hứa với các Tổ Phụ chúng ta đã được thể hiện viên mãn trong Chúa Giêsu Kitô. Về vấn đề này, Công đồng chung Vatican 2 đã quả quyết: ”Vì thế, Chúa Con đã đến. Ngày được Chúa Cha sai đi, nơi Người, trước khi tạo thành vũ trụ, Chúa Cha đã chọn và tiền định cho chúng ta trở nên dưỡng tử.. Vì thế, để chu toàn ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời trên mặt đất này và đã mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm Nước ấy, và đã cứu chuộc bằng sự vâng phục của Người” (Lumen gentium, 3). Và trong đời sống công khai, khi rao giảng tại Galilea, Chúa Giêsu đã chọn các môn đệ như những cộng tác viên thân tín của Ngài trong sứ vụ thiên sai. Ví dụ, trong dịp hóa bánh ra nhiều, khi Ngài nói với các Tông Đồ: ”Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Mt 14,16), qua đó Ngài khích lệ các ông hãy đảm trách nhu cầu của đám đông mà Ngài muốn cho họ lương thực để ăn no nê, nhưng đồng thời Ngài cũng mạc khải ”lương thực trường tồn cho đời sống vĩnh cửu” (Ga 6,27). Chúa động lòng thương đối với dân chúng, vì trong khi rảo quanh các thành thị và làng mạc, Ngài gặp thấy những đám đông mệt mỏi và kiệt lực, ”như những chiên không có người chăn” (cf Mt 9,36). Từ cái nhìn yêu thương ấy nảy sinh lời Chúa mời gọi các môn đệ: ”Vậy các con hãy xin chủ mùa gặt để Người sai thợ đến trong mùa gặt của Người” (Mt 9,38), và Ngài sai Nhóm 12 trước tiên đến 'với các chiên lạc Nhà Israel', với những lời dặn dò kỹ lưỡng. Nếu chúng ta dừng lại để suy niệm về trang này của Tin Mừng theo thánh Mathêu, thường được gọi là ”diễn văn truyền giáo”, chúng ta nhận thấy tất cả các khía cạnh nói lên đặc tính hoạt động truyền giáo của một cộng đồng Kitô, muốn trung thành với mẫu gương và giáo huấn của Chúa Giêsu. Việc đáp lại tiếng gọi của Chúa bao hàm sự đương đầu, một cách thận trọng và đơn sơ, với mọi nguy hiểm và cả những cuộc bách hại nữa, vì ”một môn đệ không cao trọng hơn Thầy, một đầy tớ không trọng hơn chủ” (Mt 10,24). Được nên một với Thầy, các môn đệ không còn đơn độc trong khi rao giảng Nước Trời, vì chính Chúa Giêsu hành động trong họ: ”Ai đón nhận các con là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40). Và ngoài ra, trong tư cách là những chứng nhân đích thực, ”có quyền năng từ trên cao” (Lc 24,49), họ rao giảng cho mọi dân ”sự hoán cải và sự tha thứ tội lỗi” (Lc 24,47).

3. Chính vì được Chúa sai đi, Nhóm Mười Hai mang danh hiệu là ”Tông Đồ”, được sai đi, rảo bước trên các nẻo đường thế giới, loan báo Tin Mừng như những chứng nhân về cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô. Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Corinto: ”Chúng tôi - nghĩa là các Tông Đồ - rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đanh” (I Cor 1,23). Trong tiến trình truyền giảng Tin Mừng này, sách Tông đồ Công Vụ cũng dành một vai trò rất quan trọng cho các môn đệ khác, những người có ơn gọi thừa sai nảy sinh từ những hoàn cảnh do Chúa Quan Phòng thiết định, nhiều khi đau thương, như sự trục xuất khỏi lãnh thổ của họ vì là môn đệ Chúa Giêsu (cf 8,1-4). Chúa Thánh Linh cho phép biến thử thách ấy thành cơ hội hồng phúc, và rút ra từ đó một điều lợi ích để danh Chúa được rao giảng cho dân ngoại và cộng động Kitô được mở rộng. Như thánh Luca đã viết trong sách Tông Đồ Công Vụ, đó là những người nam nữ ”hiến dâng cuộc sống cho chính nghĩa Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (15,26). Người đầu tiên trong mọi người khác, được chính Chúa kêu gọi để trở thành Tông Đồ thực sự, chắc chắn là thánh Phaolô thành Tarso. Tiểu sử thánh Phaolô, nhà truyền giáo lớn nhất trong mọi thời đại, làm nổi bật, dưới mọi khía cạnh, mối liên hệ giữa ơn gọi và sứ mạng truyền giáo. Bị những đối phương tố cáo là không được phép thi hành việc tông đồ, thánh nhân thường nại tới ơn gọi đã nhận lãnh trực tiếp từ Chúa )cf Rm 1,1; Gal 1,11-12.15-17).

4. Ngay từ đầu, cũng như sau đó, yếu tố "thúc đẩy” các Tông Đồ (cf 2 Cor 5,14) vẫn luôn là ”Tình yêu Chúa Kitô”. Trong tư cách là những đầy tớ trung thành của Giáo Hội, ngoan ngoãn đối với hoạt động của Chúa Thánh Linh, vô số các thừa sai, qua các thế kỷ, đã theo vết của các môn đệ đầu tiên. Công đồng chung Vatican 2 đã nhận xét: ”Tuy nghĩa vụ truyền bá đức tin thuộc về bất kỳ môn đệ nào của Chúa Kitô theo khả năng của họ, nhưng Chúa Kitô không ngừng kêu gọi từ đám đông các môn đệ của Ngài những người mà Ngài muốn, để họ ở với Ngài và để sai họ đi rao giảng cho muôn dân (cf Mc 3,13-15)” (Ad Gentes, 23). Thực vậy, tình yêu Chúa Kitô phải được thông truyền cho anh chị em bằng gương lành và lời nói; bằng trọn cuộc sống.

Như vị Tiền Nhiệm Đáng kính của tôi Gioan Phaolô 2 đã viết: ”Ơn gọi đặc biệt của các thừa sai trọn đời vẫn duy trì vọn vẹn giá trị: ơn gọi này là mẫu mực sự dấn thân truyền giáo của Giáo Hội, Giáo Hội luôn cần sự hiến thân quyết liệt và trọn vẹn, cần những động lực mới mẻ và táo bạo” (Thông điệp Redemptoris missio, 66).

5. Trong số những người hoàn toàn dấn thân phục vụ Tin Mừng đặc biệt có những linh mục được kêu gọi ban phát Lời Chúa, cử hành các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể và Hòa giải, hiến thân phục vụ những người bé mọn nhất, các bệnh nhân, người đau khổ, người nghèo và những người đang trải qua những giờ phút khó khăn tại những vùng trên trái đất, nơi mà đôi khi có nhiều người ngày nay vẫn chưa được thực sự gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô. Các thừa sai rao giảng lần đầu tiên cho họ về tình yêu cứu độ. Các thống kê cho thấy rằng con số những người được rửa tội hằng năm vẫn gia tăng nhờ hoạt động mục vụ của các linh mục ấy, những người hoàn toàn hiến thân cho phần rỗi của anh chị em. Trong bối cảnh đó, cần đặc biệt ghi ơn các ”linh mục 'fidei donum' (hồng ân đức tin), đang quảng đại và tận tụy khéo léo xây dựng cộng đoàn và rao giảng Lời Chúa cho họ, bẻ Bánh Sự Sống, mà không dè xẻn năng lực trong việc phục vụ công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Cần cảm tạ Chúa vì bao nhiêu linh mục đã chịu đau khổ đến độ hy sinh mạng sống để phụng sự Chúa Kitô.. Đó là những chứng tá cảm động có thể gợi hứng cho bao nhiêu người trẻ bước theo Chúa Kitô và hiến thân cho tha nhân, và nhờ đó tìm được sự sống đích thực” (Tông thư Sacramentum caritaris, 26). Vì vậy, qua các linh mục của Ngài, Chúa Giêsu hiện diện giữa con người ngày nay, cho đến những góc trời xa xăm hẻo lánh nhất.

6. Trong Giáo Hội vẫn luôn có nhiều người nam nữ, được Chúa Thánh Linh thúc đẩy, quyết định sống Tin Mừng một cách quyết liệt, tuyên xưng các lời khấn khiết tịnh, thanh bần và vâng phục. Hàng ngũ các tu sĩ nam nữ ấy, thuộc về vô số các dòng tu chiêm niệm và hoạt động, vẫn còn ”giữ một phần rất quan trọng trong việc truyền giảng Tin Mừng cho thế giới” (Ad Gentes, 40). Nhờ kinh nguyện liên lỷ và chung, các tu sĩ sống đời chiêm niệm không ngừng chuyển cầu cho toàn thể nhân loại; các tu sĩ sống đời hoạt động, với những hoạt động bác ái đa diện, đang mang lại cho mọi người chứng tá sinh động về tình yêu và lòng từ bi của Thiên Chúa. Vị Tôi Tớ Chúa Phaolô 6 đã nói về các vị tông đồ ấy của thời đại chúng ta rằng: ”Do sự thánh hiến tu trì của họ, họ là những người thiện nguyện tuyệt hảo và tự do từ bỏ mọi sự, để ra đi rao giảng Tin Mừng cho đến tận bờ cõi trái đất. Họ có tinh thần biến báo và hoạt động tông đồ của họ thường có sắc thái đặc sắc, một thiên tài khiến người khác phải ngưỡng mộ. Họ quảng đại: họ thường ở tiền tuyến trong sứ mạng truyền giáo và chấp nhận những rủi ro nguy hiểm nhất cho sức khỏe và cho cả mạng sống của họ nữa. Đúng vậy, Giáo Hội mang ơn họ rất nhiều” (Tông huấn Evangelii nuntiandi, 69).

7. Ngoài ra, để Giáo Hội có thể tiếp tục thi hành sứ mạng Chúa Kitô đã giao phó và không thiếu các nhà truyền giảng Tin Mừng mà thế giới đang cần, điều cần thiết là, trong các cộng đồng Kitô, cần phải liên tục giáo dục đức tin cho các trẻ em và người lớn, cần duy trì ý thức sinh động về trách nhiệm truyền giáo nơi các tín hữu và về sự liên đới với các dân tộc trên thế giới. Hồng ân đức tin mời gọi tất cả các tín hữu Kitô cộng tác vào công cuộc truyền giảng Tin Mừng. Cần nuôi dưỡng ý thức ấy bằng việc giảng thuyết và huấn giáo, phụng vụ và huấn luyện liên tục về cầu nguyện; ý thức ấy cũng tăng trưởng nhờ thực thi việc đón tiếp, bác ái và tháp tùng thiêng liêng, cũng như bằng một dự án mục vụ, trong đó có phần quan tâm đến các ơn gọi.

8. Ơn gọi linh mục thừa tác và đời sống thánh hiến chỉ triển nở trong một thửa đất được vun trồng kỹ lưỡng về mặt thiêng liêng. Thực vậy, những cộng đồng Kitô nào sống khẩn trương chiều kích truyền giáo trong mầu nhiệm Giáo Hội, sẽ không bao giờ co cụm vào mình. Sứ vụ truyền giáo, như chứng tá về tình yêu của Chúa, đặc biệt trở nên hữu hiệu khi được chia sẻ trong cộng đồng, để cho thế giới tin” (cf Ga 17,21). Ơn gọi là hồng ân mà Giáo Hội hằng ngày phải cầu xin Chúa Thánh Linh. Giống như thủa ban đầu, quây quần quanh Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương các Tông Đồ, Cộng đồng Giáo Hội đang học hỏi nơi Mẹ cách thức cầu xin Chúa cho có thêm nhiều tông đồ mới, biết sống nơi mình niềm tin và tình yêu cần thiết cho sứ vụ truyền giáo.

9. Trong lúc tôi gửi những suy tư này đến tất cả các cộng đồng Giáo Hội, để họ đón nhận làm của mình và nhất là gợi hứng từ đó để cầu nguyện, tôi khích lệ sự dấn thân của tất cả những người đang hoạt động trong tin tưởng và quảng đại để phục vụ ơn gọi và tôi thành tâm gửi Phép lành đặc biệt của tôi đến các nhà đào tạo, các giáo lý viên và tất cả mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ đang tiến bước trong hành trình ơn gọi.

Vatican ngày 3 tháng 12 năm 2007

Bênêditô XVI, Giáo Hoàng

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2008

Chúa Nhật V Phục Sinh – Năm A

Ngày 20 Tháng 4, Năm 2008

Chúa Nhật V Phục Sinh – Năm A

Nhà Cha Thầy và Cha Thầy

Hôm nay Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng Người sẽ về Trời trước để dọn chỗ cho chúng ta trong Nhà của Cha Người, rồi Người sẽ đón chúng ta về với Người, và Người ở đâu thì chúng ta cũng sẽ ở đó. Đồng thời Người cũng cho chúng ta biết rằng Người ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Người. Ai xem thấy Người là đã xem thấy Chúa Cha. Và nếu thật sự chúng ta ở trong Người và Người ở trong chúng ta, thì chúng ta cũng là bí tích của Người để ai xem thấy chúng ta cũng là xem thấy Người và Chúa Cha.

Trước hết, nhà của Cha Người không còn là một đền thờ do tay phàm nhân làm ra, mà là một Nhà Thiêng Liêng được xây dựng trên tảng đá sống động là Đức Kitô.

Trong Bài Đọc I chúng ta chứng kiến việc các Thánh Tông Đồ xây dựng ngôi Nhà Thiêng Liêng này, là Hội Thánh, qua việc thánh hiến bảy vị Phó Tế để giúp việc trong Hội Thánh. Nhờ đó các Ngài có thể dốc toàn lực vào việc “phục vụ Lời Chúa.” Thánh Phêrô cũng giải thích trong Bài Đọc II rằng Đức Kitô là “tảng đá” bị thợ xây loại bỏ, nhưng lại trở nên tảng đá góc tường vững chắc mà trên đó Thiên Chúa xây Nhà của Ngài nơi trần thế là Hội Thánh (x. TV 118:22; Is 8:14; 28:16).

Vì là phần tử của Nhiệm Thể Đức Kitô, mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành những viên đá sống động để xây Nhà của Thiên Chúa (x. 1 Cor 3:9, 16). Trong ngôi Nhà Thiêng Liêng Này, chúng ta trở thành “những tư tế thánh thiện” dâng “của lễ thiêng liêng”, nghĩa là tất cả những lo lắng, hy sinh, công việc và lời cầu nguyện, nhất là chính đời mình, lên Thiên Chúa hợp cùng sự hy sinh của Đức Kitô. Đó là ơn gọi cao cả làm Kitô hữu của chúng ta. Đó cũng là lý do tại sao mà Đức Kitô đã dẫn chúng ta ra khỏi bóng tối tội lỗi và tử thần, như ông Môsê đã dẫn dân Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, để biến chúng ta thành Dân Thiên Chúa.

Sau khi dẫn Dân Isral ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa đã lập Giao Ước với họ, biến họ thành một dân tư tế và vương giả để ca tụng Ngài (x. XH 19:6). Qua đức tin vào Giao Ước Mới của Đức Kitô, chúng ta được thừa kế dân Chúa chọn, được mời gọi để tôn vinh Chúa Cha trong Đền Thờ mới là Hội Thánh và chính thân xác của chúng ta (x. 1 Cor 6:19-20; Rom 12:1).

Một khi chúng ta trung thành với Chúa trong Ngôi Nhà Thiêng Liêng ở trần thế, thì chúng ta cũng sẽ được ở luôn mãi cùng Người trong Nhà Cha vĩnh cửu trên Trời. Thánh Vịnh viết rằng: “Lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (TV 32:4-5). Cho nên đừng để lòng mình xao xuyến, mà hãy tin vào Thiên Chúa, và tin vào lời hứa của Chúa Giêsu rằng Người về Nhà Cha để dọn chỗ cho chúng ta, và Người sẽ trở lại đem chúng ta đi với Người, để Người ở đâu thì chúng ta cũng ở đó với Người (x. Ga 14:1-3).

Trong khi chúng ta còn lang thang nơi dương thế, Lời Chúa trong Thánh Kinh được thực hiện trong Hội Thánh qua các Bí Tích và qua các phần tử của Hội Thánh, là Nhiệm Thể Đức Kitô. Chúa Giêsu là Bí Tích của Chúa Cha như Người đã bảo Thánh Phillippê: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha… Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy…. Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha” (Ga 14:9-12). Chúa đã truyền cho Hội Thánh, Nhiệm Thể Người, nhân danh Người mà rao giảng Tin Mừng và Rửa Tội khắp thế gian và hứa ở cùng Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28:19-20).

Như thế Hội Thánh là Bí Tích của Chúa Giêsu, và tất cả các Kitô hữu, nhất là những người thay mặt Hội Thánh mà rao giảng Lời Chúa như các Linh Mục hoặc Giáo Lý viên, cũng là Bí Tích của Đức Kitô, là những dấu chỉ bề ngoài để người khác nhận ra Đức Kitô qua lời nói, việc làm và cách sống của mình. Muốn trở thành bí tích của Chúa, chúng ta không có cách nào khác là trở nên giống Đức Kitô vì Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (x. Ga 14:6).