Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2007

SU DIEP GIANG SINH

Sứ Ðiệp Giáng Sinh


Con người đầu tiên Ađam trở nên hữu thể có sự sống, còn Ađam cuối cùng trở nên Thánh Thần ban sự sống. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trích lại lời thơ Corintô (1Cor 15,45), đó là những lời của thánh Phaolô Tông đồ tổng kết mầu nhiệm nhân loại được Chúa Kitô cứu chuộc, một mầu nhiệm được giấu ẩn trong chương trình đời đời của Thiên Chúa, một mầu nhiệm theo một nghĩa nào đó đã trở thành lịch sử với sự Nhập Thể của Ngôi Lời Hằng Hữu của Thiên Chúa Cha, một mầu nhiệm mà Giáo Hội đang sống một lần nữa với niềm xúc động sâu xa trong Lễ Giáng Sinh.

Ađam là con người đầu tiên, Chúa Kitô là Thần Khí ban sự sống, những lời của thánh Tông đồ Phaolô giúp chúng ta nhìn sâu xa hơn, giúp chúng ta nhìn nhận nơi Con Trẻ giáng sinh tại Bêlem là Con Chiên đã bị hiến tế và là Ðấng mạc khải ý nghĩa của lịch sử. Lúc Người giáng sinh, thời gian và vĩnh cửu gặp nhau, Thiên Chúa sống trong con người và con người trong Thiên Chúa.

Con người đầu tiên Ađam trở thành hữu thể có sự sống, thiên tài bất tử Michel Ange đã vẽ ra trên trần nhà nguyện Sixtin giây phút Thiên Chúa Cha trao ban hồng ân sự sống cho con người đầu tiên và làm cho nó trở thành hữu thể có sự sống. Giữa ngón tay của Thiên Chúa và ngón tay của con người đưa ra hướng về nhau và gần như là chạm vào nhau nơi mà cách đó xem ra như có một lằn lửa vô hình, Thiên Chúa thông truyền cho con người sức mạnh của chính Ngài khi tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài và giống như Ngài.

Thần Khí này là phẩm vị duy nhất của mọi hữu thể con người, của khát vọng vô cùng của nhân tính hướng về cái vô cùng. Tâm tư chúng ta ngày hôm nay hướng về chính lúc đầu tiên của mầu nhiệm không thể hiểu thấu được, giây phút của khởi đầu sự sống con người trên mặt đất. Khi chúng ta chiêm ngắm Con Một của Thiên Chúa Cha trở thành con người, dung mạo đời đời của Thiên Chúa được phản chiếu trong dung mạo của Con Trẻ. Con người đầu tiêm Ađam trở thành trở thành hữu thể có sự sống do bởi lằn lửa Thần đặt vào bên trong con người, mà con người là một hữu thể có trí khôn và sự tự do, và như thế có khả năng chịu trách nhiệm quyết định đối với chính mình và vận mệnh riêng của mình.

Bức họa nổi tiếng của nhà nguyện Sixtin được tiếp tục với cảnh về tội nguyên tổ, con rắn cuộn tròn theo thân cây thuyết phục nguyên tổ chúng ta ăn trái cây đã bị cấm. Thiên tài của nghệ thuật và chiều sâu của biểu tượng của Kinh Thánh được hòa nhập tuyệt vời với nhau để gợi lên giây phút bi thảm đó, khởi đầu của một lịch sử phản loạn, tội lỗi và đau buồn từ phía nhân loại. Nhưng thử hỏi, Thiên Chúa có thể bỏ quên công việc do tay Ngài tạo nên tuyệt tác của tạo vật hay không? Chúng ta biết được câu trả lời của đức tin như sau: "Khi thời giờ đã nên trọn, Thiên Chúa Cha đã sai Con Ngài xuống sinh ra bởi Người Nữ, sinh ra trong lề luật để cứu chuộc những ai sống dưới lề luật, ngõ hầu chúng ta có thể trở nên dưỡng tử của Ngài".

Những lời của thánh Tông đồ Phaolô vang lên với sự hùng hồn đích thực khi chúng ta chiêm ngắm biến cố đáng phục Giáng Sinh trong năm nay. Nơi Con Trẻ mới sinh nằm trong máng cỏ, chúng ta chúc mừng Ađam mới trở thành Thần Khí ban sự sống cho chúng ta. Trọn cả lịch sử của thế giới hướng về Người, Ðấng được sinh ra tại Bêlem, ngõ hầu thiết lập lại niềm hy vọng cho từng người nam, nữ trên mặt đất này.

Từ máng cỏ, đôi mắt của chúng ta hôm nay nhìn về toàn thể nhân loại, một nhân loại được mời gọi lãnh nhận hồng ân của Ađam thứ hai, dù còn phải lãnh nhận phần gia tài tội lỗi của Ađam thứ nhất. Thử hỏi, có phải lời thưa không đầu tiên đó tiếp tục làm méo mó dung mạo của nhân loại hay không? Những trẻ thơ phải gánh chịu bạo lực, bị hạ nhục và bỏ rơi. Những người nữ bị hãm hiếp và bị lạm dụng khai thác. Những người trẻ, những người lớn và những vị cao niên bị loại ra ngoài xã hội. Những lớp người khốn cùng bị đi đày và đi tỵ nạn, bạo lực và xung đột tại biết bao nơi trên thế giới.

Tôi lo âu nghĩ đến Thánh Ðịa, nơi mà bạo lực tiếp tục làm cho con đường khó khăn dẫn đến hoà bình bị nhuốm máu. Và có thể nói gì về những Quốc gia mà giờ đây tôi đặc biệt nghĩ đến Indonesia. Có thể nói gì về những Quốc gia nơi mà những anh chị em chúng ta trong đức tin đang phải trải qua những giây phút khó khăn của thử thách và đau khổ. Chúng ta không thể không gợi lại hôm nay rằng, những bóng tối sự chết chóc đang hăm dọa mạng sống con người ở mọi hạng tuổi và đặc biệt đang hăm dọa mạng sống con người vào ngay lúc khởi đầu và lúc kết thúc tự nhiên của nó. Càng trở nên mạnh mẽ hơn nữa, cám dỗ muốn làm chủ sư hết bằng cách làm cho nó đến sớm hơn dường như thể chúng ta là người chủ của mạng sống mình và mạng sống của những kẻ khác. Chúng ta đang đối diện với những dấu chỉ báo nguy của một nền văn hoá sự chết đang hăm dọa nghiêm trọng tương lai.

Tuy nhiên, cho dù bóng tối xem ra dày đặc đến mấy đi nữa, niềm hy vọng của chúng ta vào sự chiến thắng của ánh sáng đã xuất hiện trong đêm Thánh tại Bêlem còn mạnh mẽ hơn. Quả thật, có biết bao điều tốt đã được thực hiện một cách âm thầm bởi những con người nam, nữ hàng ngày sống đức tin, chu toàn công việc và dấn thân phục vụ gia đình của họ và phục vụ điều thiện hảo của xã hội. Cũng thật là khích lệ vào những cố gắng của những ai, kể cả những con người nam, nữ trong đời sống công cộng, đang cố gắng cổ võ cho sự tôn trọng nhân quyền của mỗi một người và cổ võ sự gia tăng tình liên đới của các dân tộc thuộc các nền văn hóa khác nhau, ngõ hầu món nợ của những quốc gia nghèo nhất được giải tha, ngõ hầu hiệp ước hòa bình trong danh dự được đạt đến giữa các quốc gia đang xung đột với nhau thật bi thảm.

Với các dân tộc khắp nơi trên thế giới đang can đảm tiến đến các giá trị dân chủ, sự tự do, sự tôn trọng và chấp nhận lẫn nhau. Với tất cả mọi người thiện chí bất luận thuộc về nền văn hoá nào, sứ điệp vui mừng của Mùa Lễ Giáng Sinh hôm nay được gởi đến cho họ là: "Hoà bình dưới thế cho con người được Thiên Chúa yêu thương".

Lạy Chúa Giêsu, Ðấng đã giáng sinh tại Bêlem vì chúng con, Chúa đã yêu cầu nơi nhân loại đang bước vào ngàn năm mới hãy tôn trọng từng người, nhất là những kẻ bé mọn và những người yếu đuối. Chúa yêu cầu chấm dứt mọi hình thức của bạo lực, chấm dứt chiến tranh, đàn áp và mọi tấn công vào sự sống.

Lạy Chúa Kitô mà chúng con hôm nay chiêm ngắm nằm trong vòng tay của Mẹ Maria, Chúa là lý do cho niềm hy vọng của chúng con. Thánh Phaolô đã nói với chúng con rằng, điều cũ đã qua rồi, và đây là điều mới đã đến. Trong Chúa và chỉ trong Chúa mà thôi nhân loại được ban cho cơ may để trở thành tạo vật mới.

Lạy Con Trẻ Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì món quà này, nguyện chúc tất cả Lễ Giáng Sinh đầy hạnh phúc.

MUNG CHUA GIANG SINH

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2007

MUNG CHUA GIANG SINH

CHUA NHAT 4 MUA VONG NAM A

TIN MỪNG CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG, A

(Mát-thêu 1: 18-25)


Cây có cội, nước có nguồn. Phụng vụ Lời Chúa trong ba Chúa Nhật trước đã giới thiệu cho ta về Chúa Giê-su Cứu Thế sẽ đến và kêu gọi ta chuẩn bị đón Người. Chúa Nhật thứ tư mùa Vọng đặc biệt mời gọi ta trở về nguồn gốc của Đấng Cứu Thế để nhận ra công việc Thiên Chúa thực hiện. Nguồn gốc của Người là Thiên Chúa, Đấng đã sai Người đến với nhân loại, vì Người là Con Một Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không độc quyền cứu chuộc nhân loại, cho nên Người dành chỗ cho nhân loại cộng tác với Người và Người đã chọn Ma-ri-a cùng với Giu-se để gửi gấm Con Một Người. Qua gia đình thuộc dòng dõi Đa-vít này, Con Thiên Chúa đã mang lấy nguồn gốc nhân loại. Thánh sử Mát-thêu đã mở đầu câu truyện truyền tin cho ông Giu-se như sau: “Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô.” Đó cũng là đề tài suy niệm khi ta chuẩn bị đón Chúa đến.

a) “Bà Ma-ri-a, Mẹ Người”

Ta đã có câu truyện Truyền tin cho Đức Mẹ trong Tin Mừng Lu-ca. Nhưng ở đây trong câu truyện truyền tin cho ông Giu-se, thánh Mát-thêu cũng nhắc tới “bà Ma-ri-a Mẹ Người... đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.” Nhắc tới như thế, ngài muốn nhấn mạnh đến nguồn gốc Thiên Chúa của Đấng Cứu Thế. Quyền năng Chúa Thánh Thần đã thực hiện mầu nhiệm Nhập Thể, tức mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, chứ không phải sự cộng tác thể xác của người đàn ông đã tạo nên sự sống của Người. Đến với ta, Thiên Chúa không chỉ làm một con người đứng ngoài xã hội, tách biệt với nhân loại, nhưng Người muốn đi vào lịch sử nhân loại, trở nên một phần tử của một dòng tộc. Vì thế Thiên Chúa không tuyển chọn một cô gái đơn độc, nhưng một cô gái “đã đính hôn với ông Giu-se.” Nghĩa là qua cuộc hôn nhân này, Thiên Chúa mang lấy căn cước nhân loại, để Người thực sự “cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Trước mặt pháp luật, bà Ma-ri-a đã là vợ ông Giu-se mặc dù hai người chưa chung sống với nhau. Họ đã làm thành một gia đình với đầy đủ tính cách pháp lý xã hội. Chính nơi gia đình này, Thiên Chúa đã làm người qua Mẹ Ma-ri-a và đã cư ngụ giữa nhân loại qua nguồn gốc của miêu duệ Đa-vít.

Nơi Mẹ Ma-ri-a, quyền năng Thiên Chúa và căn tính nhân loại (qua cuộc đính hôn giữa Mẹ với thánh Giu-se) cộng tác với nhau để thực hiện kế hoạch “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Ta không thể tưởng tượng được sự khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa khi Người liên kết trời với đất, Thiên Chúa với loài người bằng cách tuyển chọn một trinh nữ để cộng tác với Người trong một kế hoạch quá lớn lao như vậy. Chính Mẹ Ma-ri-a đã nhận thức được sự khôn ngoan ấy khi Mẹ cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới... Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh chí tôn!” (Lc 1:48,49).

b) “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính”

Trong khi Lu-ca nhấn mạnh đến vai trò của Đức Mẹ, thì Mát-thêu lại làm nổi bật vai trò của thánh Giu-se. Mục đích của thánh sử là minh chứng Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế thể hiện những điều đã được Cựu Ước nói đến, nói khác đi, đó là “Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1:1). Kể lại gia phả của Chúa Giê-su, ngược dòng trở lại nguồn gốc là vua Đa-vít và tổ phụ Áp-ra-ham, thánh Mát-thêu cố ý sắp đặt thành ba thời điểm với ba chuỗi 14 đời. Các học giả Kinh Thánh giải thích rằng ngài chọn con số 14 để ám chỉ vua Đa-vít. Tiếng Do-thái không có nguyên âm, nên tên David được viết là DVD. Mỗi phụ âm lại có một giá trị số học, mà giá trị số học của D là 4 và V là 6. Như thế, DVD cũng được viết là 4+6+4, tức tổng số là 14. Do đó, sắp đặt gia phả Chúa Giê-su cách ấy, thánh Mát-thêu muốn trình bày một điểm thần học: Chúa Giê-su là con cháu vua Đa-vít.

Thánh Mát-thêu còn tế nhị khi kể đến tên ông Giu-se (đời 13) trong gia phả. Thay vì tiếp tục công thức “ông Giu-se sinh Đức Giê-su” thì ngài lại viết: “Ông Gia-cóp (không phải tổ phụ Gia-cóp!) sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.” Rõ ràng thánh Mát-thêu chỉ muốn nhấn mạnh đến tính cách pháp lý thánh Giu-se là cha Đức Giê-su, chứ không phải là cha theo huyết nhục. Trong cuộc truyền tin, sứ thần Chúa cũng nói rõ hơn về tính cách pháp lý này: “Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Nếu không phải là cha của Chúa Giê-su theo pháp lý, thánh Giu-se không có quyền “đặt tên cho con trẻ” được!

Nói về con người thánh Giu-se, thánh sử chỉ dùng một hình ảnh đơn giản, nhưng đã nói lên được tất cả những đặc tính của Ngài: Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính. Ta có thể lập lại ở đây hình ảnh người công chính đã được nói đến trong Thánh Vịnh 15 để biết thánh Giu-se là ai.

“Lạy Chúa, ai được vào cư ngụ trong nhà Chúa,

được ở trên núi thánh của Ngài?

Là kẻ sống vẹn toàn, luôn làm điều ngay thẳng,

bụng nghĩ sao nói vậy,

miệng lưỡi chẳng vu oan, không làm hại người nào,

chẳng làm ai nhục nhã.” (TV 15:1-3)

Cách sắp đặt gia phả còn nói cho ta một đặc nét khác của con người Giu-se. Đầu gia phả là ông Áp-ra-ham và cuối gia phả là thánh Giu-se. Áp-ra-ham là mẫu người đầy đức tin, là cha của dân Chúa tuyển chọn. Giờ đây ta có thể hiểu thánh Giu-se cũng là con người của đức tin. Nhờ lấy đức tin để chấp nhận một hoàn cảnh vô lý là đón nhận Mẹ Ma-ri-a, thánh Giu-se trở thành cha của một Ít-ra-en Mới.

Giáo Hội muốn ta tìm về gốc tích của Chúa Giê-su Cứu Thế, để ta nhận ra được phần nào những chuẩn bị kỹ càng của Thiên Chúa khi Người ban cho ta Đấng Ki-tô. Nhưng điểm cốt yếu là qua những chuẩn bị ấy của Thiên Chúa, ta hiểu được tình yêu Người dành cho ta bao la đến chừng nào, đồng thời cũng nhắc nhở ta phải chuẩn bị xứng đáng để đón nhận Con Một Người, món quà yêu thương Người ban cho ta.

c) Suy nghĩ và cầu nguyện

Tôi có khi nào nghĩ đến gốc tích của mình để cảm tạ Chúa không? Có gì để tôi cảm tạ Người?

Mẹ Ma-ri-a thưa “xin vâng” theo lời sứ thần truyền. Thánh Giu-se thì “làm như sứ thần Chúa dạy”. Đâu là kế hoạch Thiên Chúa muốn tôi cộng tác với Người? Tôi có mau mắn theo gương Đức Mẹ và thánh Giu-se không? Điều gì làm tôi ngại ngùng?

Tôi đã ở cuối mùa Vọng. Còn phương diện nào tôi cần phải chuẩn bị để đón mừng Chúa đến trong tâm hồn tôi không?

Cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,

chúng con sắp mừng lễ Giáng Sinh của Con Chúa.

Người là Ngôi Lời đã không quản mặc lấy xác phàm

trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và ở giữa chúng con.

Xin Người cũng tỏ cho chúng con là tôi tớ thấp hèn

thấy lòng Chúa từ bi nhân hậu.

Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa,

hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2007

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2007

MUNG CHUA GIANG SINH 2007

CHUA NHAT 3 MUA VONG NAM A

SUY NIỆM TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG, A

(Mát-thêu 11: 2-11)


Ông Gio-an là người tích cực xây dựng Nước Trời. Cuộc đời của ông được cống hiến để làm công cụ giới thiệu cho người ta biết Nước Trời và chuẩn bị tâm hồn để người ta tiếp nhận Nước Trời. Lời giảng về thống hối của ông đã đánh động nhiều người, nhưng đồng thời cũng làm cho một số người nhức nhối, thí dụ nhóm Pha-ri-sêu, Xa-đốc, kinh sư và cả triều đình Hê-rốt nữa. Người ta không muốn nghe những lời “sự thật mất lòng” của ông. Cho nên việc ông ngồi tù là hậu quả do lòng hăng say kêu gọi người ta sám hối và sống công chính. Nhưng chính thời gian trong tù cũng là lúc ông tiếp tục chu toàn sứ vụ của mình, chỉ cho người ta thấy rõ ràng Chúa Giê-su là ai. Không chỉ là một lời giới thiệu tổng quát như trước kia: “Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người” (). Nhưng là nói cho người ta biết tất cả về sứ mệnh của Đấng ấy như ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo (Is 35:5tt; 60:1). Đáp lại, Chúa Giê-su cũng khéo léo ca tụng Gio-an là người cao trọng trong Nước Trời.

a) Rao giảng từ nơi ngục tù

Người ta bắt Gio-an giam trong tù, những hy vọng ông sẽ không còn cơ hội nào để nói về Đấng Cứu Thế và kêu gọi người ta sám hối nữa. Nhưng lời Chúa không thể bị xiềng xích. Ở đâu người ta cũng có thể rao giảng. Và Gio-an đã có cách để tiếp tục sứ vụ rao giảng về Đấng Cứu Thế. Ông không đến được với dân chúng thì đã có đám môn đệ của ông. Đó chính là lý do ông sai họ đi đến hỏi Chúa Giê-su xem Người có phải là Đấng Cứu Thế không. Những môn đệ này đã đích thân mắt thấy những việc Chúa thực hiện và tai nghe những lời Người giảng. Chúa Giê-su cũng có cách khôn ngoan của Người để thông tin cho Gio-an. Người bảo những môn đệ của Gio-an cứ về lập lại cho ông nghe lời của ngôn sứ I-sai-a, tức khắc ông sẽ biết Chúa Giê-su là ai. Đó là “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” Giữa cơn bách hại, Thiên Chúa đã ban ơn khôn ngoan cho các ngài để khéo léo xử sự!

Nhưng ta có thể tin rằng bản thân ông Gio-an không cần biết những điều ấy, vì quả thực ông đã được Thánh Thần soi sáng và đã biết Chúa Giê-su là ai rồi. Các môn đệ ông mới là những người cần biết, để họ sẽ thay ông mà đến với dân chúng và tiếp tục sứ vụ của ông. Họ được sai đi để xác tín con người và sứ mệnh của Đấng ông đã chỉ cho họ trước đây (Ga ). Ông cần phải lu mờ đi để Chúa Giê-su được sáng lên. Các môn đệ ông đã có những người nghe lời ông giới thiệu Chúa Giê-su nên đi theo Chúa (Ga ). Ông không buồn, không ghen tức, trái lại rất vui mừng và thỏa mãn vì đó là nguyện vọng của ông.

Con người khiêm tốn ấy cần phải để cho Chúa Giê-su nhận định. Người thời nào cũng kính trọng các ngôn sứ. Nhưng Chúa Giê-su bảo: ông Gio-an còn hơn cả ngôn sứ nữa, vì ông kết thúc sứ vụ của các ngôn sứ Cựu Uớc và mở ra sứ vụ của ngôn sứ Tân Ước. Ông, các môn đệ ông và mọi Ki-tô hữu đều phải làm ngôn sứ cho Chúa Cứu Thế, loan báo cho thế giới biết và chuẩn bị lãnh nhận ơn cứu độ.

Như vậy, người ta tưởng ngục tù sẽ ngăn chặn sứ vụ ngôn sứ Tân Ước của Gio-an thì đó lại là nơi sứ vụ của ông đạt tới cao độ và điểm chót là cái chết làm chứng cho những gì ông rao giảng!

b) Ông Gio-an là “người trong Nước Trời”

Câu cuối cùng Chúa Giê-su nhận định về Gio-an làm ta có cảm tưởng như Chúa chơi trò tung hứng, nâng đập. “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.” Nghe lời này, ta dễ dàng hiểu lầm là Chúa Giê-su đã quá đề cao người trong Nước Trời và khinh thường Gio-an. Không phải vậy đâu. Mà là kiểu khen thật tế nhị, kín đáo của Chúa Giê-su đó. Hẳn ta nhớ có lần Chúa Giê-su đang giảng dạy thì có người lên tiếng ca tụng Mẹ Người: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!” Chúa Giê-su đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc -28). Trả lời như thế, đâu phải Chúa Giê-su phủ nhận phúc trọng của Đức Mẹ! Trái lại, ta phải hiểu ý của Chúa muốn nói như thế này: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa, vậy thì ai là người đã thực sự “lắng nghe và tuân giữ lời Chúa” cho bằng Mẹ tôi? Chắc chắn là không có ai hơn Mẹ tôi đâu! Đấy, Chúa khen ngợi Đức Mẹ một cách ý nhị và tài tình như vậy đó. Và hôm nay, Người cũng khéo léo sử dụng cùng một kiểu nói để khen ông Gio-an. Vậy ta có thể hiểu cách lập luận của Chúa như thế này. Ông Gio-an cao trọng hơn mọi ngôn sứ, hơn mọi người. Vậy nếu “người trong Nước Trời” còn cao trọng hơn ông Gio-an, thì chỗ đứng của ông Gio-an hơn các ngôn sứ và mọi người vẫn chưa xác định đủ, vì ông Gio-an không những chính là “người trong Nước Trời”, mà ông còn là vị rao giảng và chuẩn bị cho những ai muốn trở thành “người trong Nước Trời”.

Như thế, ông Gio-an của cuối thời Cựu Ước cao trọng như vậy mà còn kém một “kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời” thì ông Gio-an của đầu thời Tân Ước sẽ cao trọng đến mức nào, vì chắc chắn ông không phải là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời! Chúa Giê-su muốn phân biệt hai thời đại Cựu Ước và Tân Ước, để nâng giá trị của ông Gio-an lên mức độ cao trọng nhất, vì ông mở đường để dẫn người ta đến gặp gỡ Chúa Giê-su là Nước Trời đã đến.

c) “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con”

Lời ngôn sứ Ma-la-khi đã ám chỉ về Gio-an và sứ vụ của ngài. Ki-tô hữu hôm nay cũng đón nhận lời sai đi ấy để ra đi làm chứng cho Chúa Giê-su. Sứ vụ Tiền hô không đòi ta phải vào hoang địa, phải làm giống như ông Gio-an. Nhưng ta có những hoang địa, những dòng sông Gio-đan ở chung quanh ta. Có thể là nơi sở làm. Có thể là một khu phố nơi người ta không sống tốt đẹp. Cũng có thể là chính gia đình đang thiếu tình thương giữa vợ chồng con cái. Chỉ cần ta làm sao chứng tỏ được “Đấng phải đến” đã đến trong tâm hồn ta và hình ảnh Người được biểu lộ qua lối sống bác ái yêu thương của ta, qua tư cách công chính ngay thẳng của ta...

Lời sai đi của Chúa Giê-su thật súc tích. Một trong những cách Người sai ta đi, đó là “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em; người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu thương nhau.”

d) Suy nghĩ và cầu nguyện

“Anh em cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe...” Có khi nào tôi thuật lại cho những người khác những ân sủng Chúa đã làm cho tôi không? Thuật lại như thế, tôi có nói lên được hình ảnh đích thực Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế, hay chỉ là hình ảnh của một Đấng để tôi cầu được ước thấy?

Chúa Giê-su nói lên giá trị của “người trong Nước Trời”. Tôi có là người ấy không? Hay tôi chỉ là một Ki-tô hữu có tên, nhưng vẫn sống ở ngoài Nước Trời? Điều gì chứng tỏ tôi là “người trong Nước Trời”?

Sau lời tán dương giá trị của Nước Trời, Chúa Giê-su khẳng định: “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được.” Vậy sức mạnh nào ngăn cản Nước Trời đến với tôi? Tiền bạc của cải? Tham vọng? Tôi phải làm gì để thắng vượt những sức mạnh đó?

Cầu nguyện:

“Lạy Chúa Giê-su,

xin cho con dám hành động

theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.

Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện,

vì xác tín rằng

Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con,

Chúa ngàn lần quảng đại hơn con

và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Lạy Chúa Giê-su trên thập giá,

xin cho con dám liều theo Chúa

mà không tính toán thiệt hơn,

anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ,

can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim,

và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.

Ước gì khi dâng lên Chúa

những hy sinh làm cho tim con rướm máu,

con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt

của người một lòng theo Chúa.”