Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2007

MUNG LE CAC THANH

THỨ NĂM 01/11/2007
Lễ Các Thánh Nam Nữ
(Lễ Buộc, Xem Bài Đọc)

1. Ghi nhớ: “Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời” . (Mt 5, 11)

2. Suy niệm: Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa nói “Phúc cho các con” chín lần. Tám lần đầu nói về Tám điều mà một môn đệ của Chúa phải làm để nên thánh, và lần sau cùng Chúa cho chúng ta biết giá chúng ta phải trả khi sống Tám Mối Phúc Thật ở đời này thế nào và phần thưởng chúng ta sẽ lãnh được ở đời sau ra sao. Chúa mời gọi mỗi người chúng ta nên hoàn thiện, nghĩa là nên thánh, như Cha trên trời. Chúa còn cho chúng ta biết rằng Tám Mối Phúc Thật chính là con đường chúng ta phải đi theo để nên Thánh. Theo ĐTC Gioan Phaolô II thì "Chúa Giêsu không những chỉ giảng Tám Mối Phúc Thật, mà Người còn sống Tám Mối Phúc Thật. Chính Người là Tám Mối Phúc Thật. Chỉ cần nhìn vào Người các con thấy thế nào là có tinh thần nghèo khó, là hiền lành và thương người, là khóc lóc, là quan tâm đến sự công chính, là có lòng trong sạch, là xây dựng hoà bình, là bị ngược đãi. Vì vậy Người có quyền nói, 'Hãy đến và theo Thầy!' Người không chỉ nói 'Làm những gì Thầy dạy'. Người nói, 'Hãy đến và theo Thầy!'" (Bài Giảng của ĐTC Gioan Phaolô II trên Núi Tám Mối Phúc Thật).

Các Thánh trên Thiên Đàng là những người đã nghe lời mời gọi của Chúa và đã trung thành theo Chúa bằng cách sống Tám Mối Phúc Thật. Khi mừng lễ kính các Thánh, Hội Thánh muốn đem các ngài ra làm gương cho chúng ta trên để chúng ta theo con đường ủa các ngài mà nên thánh.

3. Sống Lời Chúa: Ông kia bà nọ nên thánh còn tôi thì sao?

4. Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con hiểu rằng con đường nên thánh là sống theo thánh ý Chúa và thực hành Tám Mối Phúc Thật trong việc bổn phận hàng ngày. Amen.

THỨ SÁU 02/11/2007
Lễ Các Đẳng Linh Hồn
(Xem Bài Đọc)

1. Ghi nhớ: “Nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.”. (Rom 6:5)

2. Suy niệm: Đối với một Kitô hữu, chết không phải là hết, nhưng là bước sang một đời sống mới. Những ai đã cùng chết với Đức Kitô qua Bí Tích Thánh Tẩy sẽ được cùng sống lại với Người sau khi trải qua cuộc sống tạm bợ này. Chết với Đức Kitô có nghĩa là "từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa" (Lc 9:23). Vì chúng ta là con người yếu đuối, dù có muốn theo Chúa cách nào đi nữa thì đôi khi chúng ta cũng bị sa ngã phạm tội. Tuy Bí Tích Hoà Giải tha các tội chúng ta phạm, nhưng vì lẽ công bình, chúng ta vẫn phải chịu thanh luyện cho sạch các tỳ vết do các tội ấy gây ra, hoặc ở đời này, hoặc ở đời sau trong Luyện Ngục.

Trong suốt tháng này Hội Thánh kêu gọi chúng ta bỏ hết công sức ra hy sinh kết hợp với hiến lễ của Chúa Giêsu để cầu nguyện cho các linh hồn.đã ra đi trước chúng ta trong ân nghĩa Chúa nhưng chưa được hưởng Thánh Nhan Chúa. Các linh hồn đang ở trong tình trạng thanh luyện cho xứng với tình yêu tuyệt đối của Chúa. Nhưng lòng nhân từ của Chúa muốn để cho ta có dịp chia sẻ với các linh hồn. Vì thực ra trong cuộc sống hàng ngày chúng ta liên kết chặt chẽ với nhau cả trong ân sủng và cả trong tội. Ý thức để chúng ta biết giúp các linh hồn bằng những hy sinh, xin lễ, cầu nguyện…đó cũng là cách làm cho chính mình trở nên cao đẹp hơn và trong sạch hơn.

3.Sống Lời Chúa: Luôn nhớ tới các linh hồn để cầu nguyện cho họ, nhất là các linh hồn mồ côi

4. Cầu nguyện: Lạy Chúa, chúng con sẽ cố gắng hy sinh để đền tội cho các linh hồn và chúng con tin rằng, khi các ngài được về bên Chúa thì chúng con cũng sẽ được liên kết trong tình yêu của Chúa nhiều hơn. Amen.

THURSDAY 11/01/2007
Solemnity of All Saints
(See Readings)

1. Remember: “Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you falsely because of me. Rejoice and be glad, for your reward will be great in heaven” (Mt 5, 11).

2. Reflection: In the Gospel today, Jesus repeats "Blessed are you" nine times. The first eight times He teaches us what to do to be holy, and the last time He tells us the price we have to pay when we live the Beatitudes, and the reward we will receive after life. Jesus also informs us that the Beatitudes are the way of holiness. According to Pope John Paul II: "Jesus does not merely speak the Beatitudes. He lives the Beatitudes. He is the Beatitudes. Looking at him you will see what it means to be poor in spirit, gentle and merciful, to mourn, to care for what is right, to be pure in heart, to make peace, to be persecuted. This is why he has the right to say, 'Come, follow me!' He does not say simply, 'Do what I say'. He says, 'Come, follow me!'" (Homily to Youth on Mount of Beatitudes, Mach 24, 2000).

The Saints in Heaven are the one who accepted Jesus' invitation and faithfully followed Him by living the Beatitudes. When celebrating the Feast of All Saints, the Church wants to use them as examples for us so that we can become holy by following their ways of living.

3. Practice: Other people like me can be saints, how can I?

4. Prayer: Lord, please help me to understand that the way of holiness is to do Your Will by living the Beatitudes in performing our daily duties. Amen.

FRIDAY 11/01/2007
All Souls Day
(See Readings)

1. Remember: "We shall also be united with him in the resurrection (Rom 6:5).

2. Reflection: For a Christian, death is not final, but a transformation into a new life. Everyone who dies with Jesus in Baptism will live with Him after this temporary life. Dying with Christ means to "denying yourself and take up your cross and follow Jesus daily" (Lk 9:23). However, because of our sinful human nature, even if we want dearly to follow Jesus, once in a while we will fall and sin. Although Jesus forgives our sins through the Sacrament of Reconciliation, due to justice, we still have to be cleansed from the stains of sins either in this world or after death in the Purgatory before entering Heaven.

In this month, the Church asks us to unite our sacrifices to the sacrifice of Jesus and to pray for the souls of the ones who have departed before us in the grace of God, but are still awaiting for the Beatific Vision. They are in a state of purification to become worthy of the holy Love of God. God's Mercy gives us chances to share with them our sacrifices and prayers. In fact, in everyday life, we are uniting with each other in both grace and sin. By realizing this, we should sacrifice, offer Mass and pray for them. In the meantime, this will also help us to purify ourselves.

3. Practice: Always remember the departed and pray for them, especially the forgotten souls.

4. Prayer: Lord, we will try to sacrifice and to pray for the departed and we believe that when they enjoy Your Presence we will be united more closely in your Love. Amen.

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2007

Vị Cha Chung Bênêđictô XVI Hiền Lành và Khiêm Nhượng

Vị Cha Chung Bênêđictô XVI Hiền Lành và Khiêm Nhượng

BORSUM - Đức quốc, ngày 03.5.2005 - Tôi không ngờ một vị Hồng Y người Đức mà được đa số 2/3 của 114 vị Hồng Y khác tín nhiệm bầu làm Giáo Hoàng thứ 265 của Hội Thánh Công Giáo. Nước Đức là một quốc gia ít được lòng mến chuộng từ các dân tộc khác vì nước này đã gây ra và để lại cho lịch sử thế giới biết bao nhiêu thương đau về chiến tranh thứ nhất (1917) và thứ hai (1945), nhất là tội ác diệt chủng 6 triệu người Do Thái trong các trại tập trung khủng khiếp bằng hơi ngạt và lò thiêu xác. Trong thời gian đen tối này đã gây nên bao nhiêu đau buồn tang tóc cho chính người Đức và các quốc gia láng giềng. Với niềm vui và lẫn tủi hổ người Đức kỷ niệm 60 năm được chấm dứt chiến tranh do quân đội đồng minh đổ bộ giải thoát họ khỏi chủ nghiã Đức quốc xã vào ngày 9 tháng 5 năm 1945. Những hậu quả đó vẫn con lưu truyền dai dẳng cho đến ngày nay. Rồi họ lại còn chịu cảnh chia đôi đất nước trong 45 năm trời cho đến ngày thống nhất đất nước 03.10.1990: Đông theo chủ nghiã cộng sản và Tây theo khối dân chủ tự do. Về tôn giáo tại Đức cũng là nơi nổi dậy phong trào thệ phản tin lành vào thế kỷ thứ XV đã làm cho người Kitô Hữu phải đau thương chia phương rẽ hướng theo Tin Lành và Công Giáo.

Qua biến cố bầu Giáo Hoàng người Đức vào ngày 19.4.2005 đang làm cho dân tộc này hãnh diện ngẩng đầu lên và không còn mặc cảm đối với thế giới(...). Một nhà thần học tại Rôma đã phát biểu: „Từ thời Martin Luther (1483 – 1546) đến nay người Đức không còn ai gây nên ấn tượng lớn lao về thần học như một người CON của tiểu bang Bayern.“ Hơn thế nữa có nhà bình luận tại Tòa Thánh lại nói thêm: "Hồng Y Joseph Ratzinger là bộ não của Vatican". Điều chắc chắn trong thời đại này tại nước Đức không có một ai nổi bật về tư tưởng triết lý và thần học như Hồng Y Joseph Ratzinger. Ngạc nhiên đúng với cách nói dân gian "bụt nhà không thiêng“ vì các nhà chỉ trích Ngài phần đông đều là người Đức. Cách đây 10 năm có sự tranh chấp gay gắt giữa Tòa Thánh và Giáo Hội Đức về các văn phòng tư vấn gia đình của Giáo Hội Đức (do tiền trợ cấp của chính phủ) được cấp giấy chứng nhận cho các phụ nữ mang thai, với giấy chứng nhận này họ có quyền phá thai mà không bị truy tố ra tòa về tội giết thai nhi. Điều quyết định của Toà Thánh lúc bấy giờ cũng là sự quyết định của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger bắt buộc đóng cửa các cơ quan tư vấn gia đình của Giáo Hội Đức không được gián tiếp giết thai nhi dưới 10 tuần lễ. Chính vì lập trường bảo vệ giáo lý đức tin, luân lý rõ ràng không thỏa thuận với tội ác mà nhiều người Đức gán cho Ngài là bảo thủ, là "quân canh“ của Giáo Hoàng.

Lúc 24 tuổi cha Joseph Ratzinger chịu chức linh mục. Năm 30 tuổi trở thành giáo sư thần học thực thụ, cho đến nay Ngài vẫn là vị giáo sư trẻ nhất của nước Đức. Ngài đam mê nghiên cứu thần học và về nhiều lãnh vực khoa học nghệ thuật. Tư tưởng của Ngài đã để lại nhiều dấu vết tại các đại học Đức ở Freising, Bonn, Münster, Tübingen, Regensburg… Sự uyên bác của ngài đã vượt khỏi không gian đến tận Công Đông Vaticanô II, để trở thành chuyên gia thần học cho Công Đồng. Đọc lại tiểu sử của Ngài cho thấy nhiều đại học đánh giá cao và trao cho Ngài bằng tiễn sĩ danh dự (7 bằng tiến sĩ). Các tác phẩm lớn với hơn 40 cuốn sách giá trị, mặc dù có sách đã viết từ 1968 vẫn trở thành sách gối đầu giường cho sinh viên thần học ngày nay. Có sách đã được dịch thuật qua 17 thứ tiếng khác nhau. Ngài còn là thành viên của nhiều viện khoa học lớn trên thế giới. Ngoài đời cũng trao tặng cho Ngài nhiều giải thưởng và huy chương danh dự quốc gia. Ngài cũng là một người nghệ thuật chơi đàn Piano giỏi, đặc biệt thích nhạc của thần đồng Mozart. Bộ óc thông minh của ngài đã dồn được 10 ngôn ngữ khác nhau vào trong đó và sử dụng được thuần thục.

Ngài được nuôi dưỡng trong một gia đình đạo hạnh và được hướng dẫn về đạo lẫn đời và về văn hóa. Cha mẹ chỉ có 3 người con gồm 2 trai 1 gái, nhưng cả hai người con trai đều dâng mình cho Thiên Chúa. Vào ngày 29.6.1951 hai anh em Georg và Joseph Ratzinger cùng được chịu chức linh mục chung tại nhà thờ chính tòa Freising. Người anh ruột tên Georg Ratzinger còn đang sống, được phong chức Đức Ông và là giáo sư về Thánh Nhạc tại Regensburg. Mấy ngày trước bầu cử Giáo Hoàng được phỏng vấn, người anh ruột trả lời là không muốn em mình làm Giáo Hoàng vì đã lớn tuổi, tuổi này cần được nghỉ ngơi.

Tại Roma người ta luôn nhìn thấy Hồng Y Joseph Ratzinger hằng ngày cắp cặp táp màu đen, mặc áo chùng thâm, đầu đội nón nỉ màu đen và nhẹ nhàng thả bộ từ chỗ ở (Piazza della Citta Leonina) băng ngang qua công trường Thánh Phêrô tiến vào thành Vatican đến nơi làm việc. Đã 24 năm Ngài đi bộ như vậy, không người thư ký đi kèm, không người bảo vệ, nhìn qua hình ảnh này thì thấy Ngài thực sự khiêm nhượng như một người bình thường trong chúng ta.

Thông thường, ai có cơ hội gặp gỡ và trao đổi với Ngài thì sẽ nhận ra rằng Ngài là một người rất khiêm tốn, lắng nghe, hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ và dịu dàng. Khi tiếp chuyện người ta không thể ngờ được Ngài là một người cầm cân nẩy mực của Tòa Thánh trong một phần tư thế kỷ. Hơn thế nữa Ngài còn là một thần học gia chuyên tâm cầu nguyện rất sốt sắng. Đức Hồng Y Joseph Ratzinger nguyên là tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, và là vị tổng trưởng lâu dài nhất trong triều đại ĐGH Gioan Phaolô II bao gồm 24 năm, trong thời này đã xảy ra 6 vụ về các nhà thần học lạc giáo mà trong đó đã có 4 người Đức (như Hans Küng, Drewermann…) và Ngài đã cắt chức giáo sư của các vị này. Trong những năm vừa qua nói chung nền Thần Học Công Giáo được yên ổn. Ngài chính là cánh tay mặt của ĐGH Gioan Phaolô II về tư tưởng, triết lý cũng như thần học. Có thể nói mọi việc liên quan với Giáo Hội Hoàn Vũ đều có ý kiến đóng góp của Ngài. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi Ngài đã xin từ chức đến lần thứ 3 mà Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn chưa chịu cho Ngài nghỉ hưu. Tại Đức người ta đặt danh hiệu cho Ngài là "Cỗ Xe Tăng của Giáo Hội.“

Là người uyên bác và sẵn sàng tranh luận tư tưởng, mà mỗi khi như vậy thì hầu như Ngài không có đối thủ ngang tầm vóc. Tuy vậy dưới cái nhìn của nhóm chống đối (...), thì Ngài thường được xem như là một “quân canh”, lạnh lùng, cứng rắn, bảo thủ sẵn sàng giáng vạ tuyệt thông xuống cho những thần học gia bướng bỉnh đi chệch đường lối Giáo Hội, hay là nhẹ hơn cho họ thời gian hối lỗi. Nhóm người Đức chống đối này chỉ là một con số rất nhỏ, không có ảnh hưởng gì đến Giáo Hội Đức, lâu lâu có dịp thì mới phóng loa ra (như trong những ngày vừa qua). Để ý nhìn vẻ mặt của họ như là những người bệnh hoạn, bất bình thường (...)

Tôi được may mắn học thần học tại Đức và nghiên cứu vài tác phẩm của Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, hầu như các tư tưởng thần học phức tạp khó hiểu trong thần học nền tảng được Ngài dẫn dải bằng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu và đi ngay vào vấn đề. Ngài diễn tả tư tưởng rất rõ ràng và chính thống. Nghe những bài giảng trong những lần vừa qua (ngày 08.4. và 18.4.2005) thì chúng ta càng hiểu rõ Ngài muốn gì và nhận ra đường hướng của Ngài một cách mạch lạc. Ngài nhắc nhở chúng ta như những con thuyền lạc lõng trong sóng gió biển khơi được đánh bóng bằng mỹ từ "tự do và cá nhân chủ nghĩa.“ Tôi ghi nhớ đoạn văn này trong bài giảng cho tuần khai mạc Mật Viện Hồng Y bầu Giáo Hoàng, hôm 18.4.2005: “Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên vừa qua… Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác-xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy tâm huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa hỗn tạp, v.v… Nhiều giáo phái mới được sinh ra mỗi ngày và thường xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nhắc về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (x. Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất….”

Có lẽ qua những bài giảng hùng hồn và tỏ rõ tư tưởng đó, chính Ngài vô tình hay hữu ý đã đạt được lòng mọi người và có một ảnh hưởng sâu rộng trong số các vị Hồng Y cử tri trong cuộc bầu Giáo Hoàng vừa qua. Vậy đây là cuộc bầu cử rất ngắn của 115 Hồng Y hiện diện và cũng nói lên sự "đồng tâm nhất trí“ của các Hồng Y dành cho Hồng Y Joseph Ratzinger, cuộc bầu cử chỉ kéo dài trong 26 tiếng đồng hồ và trong vòng bầu thứ tư của ngày bầu thứ hai. Theo giới báo chí phỏng đoán Ngài đã chiếm được khoảng 90% lá phiếu của 115 Hồng Y, nghĩa là khoảng 100 người đã tin tưởng chọn Ngài. Một con số mơ ước cho kết quả bầu cử của những nhà chính trị trên thế giới.

Tôi vui mừng hạnh phúc chứng kiến Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giang tay chúc lành "Urbi et Orbi“ cho thành Roma và thế giới vào chiều ngày 19.4.2005, tôi nhìn thấy trong Ngài là người xứng đáng kế vị Thánh Phêrô và tiếp tục đi theo đường hướng của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tôi hạnh phúc đã được nói chuyện riêng với Ngài vào dịp lễ phong chức Hồng Y của Đức Cố Hồng Y Phanxicô Thuận (ngày 21.2.2001). Và tôi càng tự hào hơn khi nghe được điều khen ngợi của Ngài nói với tôi dành cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Thuận: “Er ist ein großer Mann in der Kirche“ (ĐHY Phanxicô Thuận là một vĩ nhân trong Giáo Hội). Tôi còn được nghe Ngài khoe: "Những bài giảng cấm phòng của Đức Hồng Y Thuận cho ĐGH (vào Năm Thánh 2000) rất hay và nước Đức đang cần đến những tư tưởng đạo đức này.“ Chính Ngài lại nói thêm: "Cha đang lo thúc đẩy người nữ thư ký riêng của Cha dịch sách tĩnh tâm này từ tiếng Ý (Testimoni della Speranza) sang tiếng Đức cho người Đức.“ Sách tiếng Đức "Hoffnung, die uns trägt“ (Chứng Nhân Hy Vọng) đã trở thành sách tâm linh được ưa thích tại Đức. Khi hồi tưởng đến những điều này tôi lại nhớ đến và gần gũi Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nhiều hơn, vì đa đoan nhiều công việc tại giáo triều Roma, mà Ngài vẫn còn làm được những việc yêu thương vĩ đại như thế cho Đức HY Phanxicô Thuận và cho danh tiếng người Việt chúng ta.

Là linh mục lo cho Mục Vụ Giới Trẻ VN tại ĐHGT Thế Giới 2005, tôi vui mừng hơn nữa khi Ngài để ý đến Giới Trẻ với câu nói đơn sơ lúc ĐHY Joachim Meisner, TGM Köln đến hôn nhẫn chúc mừng ngay sau cuộc bầu Giáo Hoàng tại nhà nguyện Sixtine: “Du, ich komme nach Köln.“ - Này Bạn ơi, tôi sẽ đến Köln (dịp ĐHGT-2005). Đấy là chương trình công du đầu tiên của Ngài chỉ quyết định sau vài phút làm Giáo Hoàng, như thế Giới Trẻ phải chiếm được một chỗ đặc biệt lắm trong trái tim của Ngài. Qua ngày hôm sau khi cử hành thánh lễ tạ ơn với Hồng Y Đoàn Ngài lại gửi thêm thông điệp đến Giới Trẻ trong bài giảng bằng giọng ưu ái yêu thương như một người ông dịu dàng ôm hôn đứa cháu: "Cha đặc biệt nghĩ đến các bạn trẻ. Đối với các con, những người bạn đặc biệt của Đức Cố GH Gioan Phaolô II, Cha gởi cái hôn thân ái nhất của Cha đến cho các con, với hy vọng theo như ý Chúa sẽ được gặp gỡ các con tại Köln nhân ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2005 sắp tới. Cùng với các con, những người bạn trẻ thân thương của Cha, Cha sẽ tiếp tục duy trì một cuộc đối thoại, lắng nghe những khát vọng của chúng con để nỗ lực giúp các con trở nên những chứng tá sống động hơn nữa trong cuộc sống và vẫn luôn trẻ mãi trong Chúa Kitô.“

Trong ngày Chúa nhật, 24.4.2005 Khi Ngài cử hành long trọng thánh lễ đăng quang Giáo Hoàng, lúc ấy hàng trăm ngàn bạn trẻ hiện diện và hô to danh hiệu: Bê-nề-đết-tô (tiếng Ý nhái đúng theo âm điệu cũ, khi các bạn trẻ hoan hô chào mừng: Giovanni Paolo). Ngài cảm nhận được bầu khí của ngày này là Giáo Hội sống mạnh và rất TRẺ TRUNG, cũng như Giáo Hội đang mang trên vai trọng trách tương lai của thế giới, như vậy Giáo Hội sẽ hướng dẫn con đường tương lai cho từng người và cho giới trẻ chúng ta. Giới Trẻ được nêu cao trong ngày đăng quang Giáo Hoàng vì lần đầu tiên có đại diện giáo dân lên cầm tay ĐGH Bênêđictô tuyên hứa sự trung thành với người Kế Vị Thánh Phêrô và hân hạnh có 2 thiếu niên đại diện cho Giới Trẻ. Không lạ gì khi Ngài vui sướng đọc được những hàng chữ lớn trên các biểu ngữ của các bạn trẻ Đức: "Heiliger Vater, Wir lieben DICH“ – Chúng con yêu mến Đức Thánh Cha. Các bạn trẻ Ý cũng biểu lộ xâu đậm bằng hàng chữ phất phới trước gió: "Siamo con TE – Papa Benedetto“ – Chúng con đồng hành với Đức Thánh Cha.

Sáng thứ hai, 25.4.2005 ĐGH Bênêđictô XVI đón tiếp các phái đoàn nói tiếng Đức khoảng trên 10.000 ngàn người Đức tại đại thính đường ĐGH Phaolô VI. Dịp này Ngài lại trực tiếp khen ngợi Giới Trẻ: "Cha biết một điều không đúng sự thật là Giới Trẻ chỉ muốn hưởng thụ, đua đòi chạy theo vật chất, nhưng sự thật là các con muốn tìm điều cao thượng hơn…“

Tôi thầm cảm tạ Thiên Chúa đã hướng dẫn Hồng Y Đoàn để chọn được Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cho thời đại chúng ta. Thời đại đang tụt dốc trầm trọng về mọi phương diện tại các nước tân tiến. Cái nhìn tiên tri của ĐGH Bênêđictô là phải trở về truyền thống nền tảng của Kitô giáo, từ đó mới xây dựng được xã hội và con người. Tôi cảm động đón nhận lời vàng ngọc khiêm tốn đầu tiên của Giáo Hoàng: “Sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, các Hồng Y đã bầu tôi làm Giáo Hoàng. Tôi chỉ là người thợ tầm thường, khiêm nhu trong vườn nho của Thiên Chúa. Quan trọng là Thiên Chúa bù đắp cho những thiếu sót của tôi. Tôi tin tưởng vào lời cầu nguyện của Anh Chị Em. Thiên Chúa và Mẹ Maria sẽ bầu cử cho tất cả chúng ta.”

Vâng, qua những ngày này từ vị bảo vệ (không nhường bước) vững chắc Đức Tin Công Giáo trong 24 năm qua, ĐGH Bênêđictô XVI đã trở nên vị Giáo Hoàng thương mến và khiêm nhường, lúc nào cũng nở nụ cười nhân ái trên môi. Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa đang trao tặng cho Giáo Hội vị Mục Tử hiền từ.

Chúng ta nhớ cầu nguyện cho Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, người Cha Chung khiêm nhượng và rất thương mến của mọi người chúng ta. Tôi thầm hát: "Này con là Đá, trên viên Đá này Cha xây Giáo Hội muôn đời kiên trung…“, và "Ta hãy cầu xin cho Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô…“

Mừng sinh nhật thứ 79 của ĐGH Bênêđictô XVI

Mozart của Thần Học

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI

Mừng sinh nhật thứ 79 của ĐGH Bênêđictô XVI

Borsum, Đức quốc - Chúa nhật Phục Sinh, 16.4.2006 – Trong cuối tuần vừa qua trên các kệ bán báo người ta thấy nhiều tít lớn trên trang nhất của các báo Đức nói về Joseph Ratzinger hoặc ĐGH Bênêđictô XVI và những tấm hình của ngài được kèm theo như: "Joseph Ratzinger: Stolz in Deutschland“ (Joseph Ratzinger: Niềm tự hào ở nước Đức) – „Der Deutsche zieht mehr Gläubige an als sein großer Vorgänger Johannes Paul II“ (Vị người Đức lối kéo nhiều giáo dân hơn vị tiền nhiệm vĩ đại Gioan Phaolô II) – "Locker - humorvoll und beliebt im ersten Amtsjahr“ - Thanh thoát – khôi hài và được yêu chuộng trong năm đầu Giáo Hoàng) - "Wir sind stolz und haben großen Respekt" (Chúng tôi tự hào và kính trọng Ngài) – "Weniger Kirchenaustritte - steigende Eintritte in Deutschland“ (Ít người bỏ đạo - Thêm người vào đạo tại Đức) - Và tờ báo lớn Die Welt (Thế Giới) tán thưởng ngài lên cung bậc vĩ nhân của âm nhạc bằng tựa đề: "Mozart der Theologie“ (Mozart của Thần Học). Đó là cơ hội các giới truyền thông muốn viết về ĐGH Bênêđitô XVI vào dịp ngài mừng sinh nhật thứ 79 - đúng ngày Chúa nhật Phục Sinh, 16.4.2006. Cũng cho dịp này đài truyền hình quốc gia ARD trong chương trình phỏng vấn "Beckmann“ nổi tiếng đã mời 4 vị Hồng Y: Walter Kasper (Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất Kitô Hữu), Karl Lehmann (Chủ tịch HĐGM Đức), Georg Sterzinsky (TGP Berlin) và Friedrich Wetter (TGP München) vào tối thứ hai, 17.4.2006 để nói chuyện về nhà thần học Ratzinger và GH Bênêđictô XVI.

Qua các dữ kiện truyền thông kể trên chúng ta thấy cái nhìn của người dân Đức đã thay đổi nhiều trong 1 năm nay, vì khi nói về danh gọi Joseph Ratzinger trước kia là họ luôn nghĩ đến "Cỗ xe tăng“ hoặc quá "Bảo thủ“ hay là "Người cầm quyền sinh sát áp chế những người chống đối Giáo Hội từ Đức quốc“ và là "Bức tường kiên cố và quân canh của Giáo Hoàng.“ Khi còn là tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin (24 năm) dưới thời ĐGH Gioan Phaolô II, trong thời này đã xảy ra 6 vụ về các nhà thần học lạc giáo mà trong đó đã có 4 người Đức (như Hans Küng, Drewermann…) và ĐHY Joseph Ratzinger đã cắt chức giáo sư đại học của các vị này. Ở trong nước Đức, đất nước của Martin Luther (1483 – 1586) thì người ta mới cảm nhận được những căng thẳng giữa hai tôn giáo lớn: Công giáo và Tin lành, mặc dù đã có những bước tiến nhảy vọt về đại kết từ phía hai bên. Một góc độ tiêu cực nào đó người Đức vẫn không ưa thích Tòa Thánh Vatican, ngay cả trong giới Công giáo cũng bị lôi cuốn vào.

Điều ngạc nhiên sau 1 năm thi hành chức vụ Mục Tử Giáo Hội, ĐGH Bênêđictô XVI đã làm cho cách nhìn của người Đức thay đổi quá mau chóng. Sáng nay, 15.4.2006 tôi mở trang báo Hannoversche Allgemeine Zeitung (một tờ báo lớn nằm ở thủ phủ của Tin Lành trong vùng Bắc Đức) đã đăng tít lớn "Nach einem Jahr als Pontifex zieht Benedikt XVI. die Gläubigen in Scharen an. Auch in Deutschland“ (Sau một năm với chức vụ Giáo Hoàng, Đức Bênêđictô XVI lôi cuốn hàng đoàn các tín hữu. Ngay cả ở nước Đức). Trong bài báo này tác giả cũng ngạc nhiên nêu câu hỏi: Những người chống đối Giáo Hội Công Giáo đang ở đâu, không còn gì để nói nữa à? Tôi đọc mà không khỏi phì cười với ý tưởng muốn gợi lên sự chống đối của họ. Nhìn chung với Thông Điệp "Thiên Chúa là Tình Yêu“ (Deus caritas est) đã thâm nhập vào được tâm can của người Đức và làm rúng động họ bởi tư tưởng thần học của Joseph Ratzinger. Phe chống và phe thuận đều ngợi khen thông điệp Tình Yêu này của ĐGH Bênêđictô XVI. Người Đức cũng trố mắt ngạc nhiên hơn khi ĐGH gửi thư mời giáo sư Hans Küng (người chống đối Vatican và Giáo Hoàng nổi tiếng toàn cầu và cũng là đối thủ của nhau hơn 2 thập niên) đến gặp mặt trò chuyện và ăn tối với Ngài vào ngày 24.9.2005 tại nhà nghỉ hè Castel Gandolfo.

Mozart của Thần Học

Cậu bé Joseph Ratzinger sinh ngày 16.4.1927 đúng vào ngày thứ bẩy Tuần Thánh tại Marktl am Inn thuộc miền thượng du Bayern. Vài tiếng sau khi mở mắt chào đời em bé Joseph đã được cha mẹ cho nhận bí tích Rửa Tội. Sự kiện này đối với ĐGH rất quan trọng và khắc khi trong cuộc đời của Ngài. Trong sách "Aus meinem Leben - Erinnerrungen“ (Từ cuộc đời của tôi) Ngài tự thuật lại ngày chào đời và lúc được Rửa Tội như sau: "Gia đình chúng tôi luôn nhấn mạnh đến ngày cuối cùng trong Tuần Thánh và buổi chiều trước đêm Vọng Phục Sinh, bởi vì điều này gắn chặt với ngày Rửa Tội với nước Rửa Tội mới được làm phép vào lễ Vọng Phục Sinh. Đứa trẻ được Rửa Tội với nước Rửa Tội vừa làm phép đêm Phục Sinh thì được nhìn là một ơn đặc biệt.“

Joseph Ratzinger

Nơi sinh ra

Joseph Ratzinger học Nhà trẻ

Tóm lược tiểu sử của Joseph Ratzinger: Từ bậc tiểu học cho đến tú tài các môn học nào cũng đều đứng nhất chỉ trừ mỗi một môn thể thao vì không hợp với cậu học trò xuất sắc này. Sau bậc trung học Joseph Ratzinger ghi danh học thần học. Lúc 24 tuổi thầy Joseph Ratzinger chịu chức linh mục. Năm 30 tuổi trở thành giáo sư thần học thực thụ, cho đến nay Ngài vẫn là vị giáo sư trẻ nhất của nước Đức. Ngài đam mê nghiên cứu thần học và về nhiều lãnh vực khoa học nghệ thuật. Tư tưởng của Ngài đã để lại nhiều dấu vết tại các đại học Đức ở Freising, Bonn, Münster, Tübingen, Regensburg… Sự uyên bác của ngài đã vượt khỏi không gian đến tận Công Đông Vaticanô II, để trở thành chuyên gia thần học cho Công Đồng. Đọc lại tiểu sử của Ngài cho thấy nhiều đại học đánh giá cao và trao cho Ngài bằng tiễn sĩ danh dự (7 bằng tiến sĩ). Các tác phẩm lớn với hơn 40 cuốn sách giá trị, mặc dù có sách đã viết từ 1968 vẫn trở thành sách gối đầu giường cho sinh viên thần học ngày nay. Có sách đã được dịch thuật qua 17 thứ tiếng khác nhau. Ngài còn là thành viên của nhiều viện khoa học lớn trên thế giới. Ngoài đời cũng trao tặng cho Ngài nhiều giải thưởng và huy chương danh dự quốc gia. Ngài cũng là một người nghệ thuật chơi đàn Piano giỏi, đặc biệt thích nhạc của thần đồng Mozart. Bộ óc thông minh của ngài đã dồn được 10 ngôn ngữ khác nhau vào trong đó và sử dụng được thuần thục.

"Đứa trẻ được Rửa Tội với nước Rửa Tội vừa làm phép đêm Phục Sinh thì được nhìn là một ơn đặc biệt.“ Đúng như vậy, 79 năm sau, hôm nay Chúa nhật Phục Sinh, 16.4.2006 mừng sinh nhật thứ 79 của Ngài, ĐGH người Đức sẽ ban Phép Lành Tòa Thánh cho một tỷ người Công giáo trên toàn thế giới và cho thành Rôma. Qua hệ thống Satellit lời chúc lành của Ngài được mang đi trực tiếp trên 100 đài truyền hình của hơn 65 quốc gia. Chưa một người Đức nào có thể ảnh hưởng rộng lớn toàn cầu đến nhiều người như vậy. Cũng từ ban-côn trước tiền đường Thánh Phêrô Ngài đã giang tay vẫy chào thế giới vào chiều ngày 19.4.2005 với danh hiệu Giáo Hoàng Bênêđictô XVI. Lời nói của Ngài vẫn vang vọng đơn sơ: "Tôi chỉ là người thợ tầm thường khiêm nhu trong vườn nho của Thiên Chúa. Quan trọng là Thiên Chúa bù đắp cho những thiếu sót của tôi. Tôi tin tưởng vào lời cầu nguyện của Anh Chị Em.“ Từ ngày ấy đã làm cuộc đời của Ngài thay đổi lớn lao, thay vì nghỉ hưu về quê cha đất tổ miền thượng du Bayern để viết sách và sống chung với người anh ruột là Đức Ông Georg Ratzinger thì hôm nay không còn thời gian để mừng sinh nhật 79 cho chính mình.

Từ ngày 19.4.2005, trong giây phút được bầu lên Giáo Hoàng đã làm đảo lộn dự tính từ lâu của 2 anh em ruột và làm thay đổi cả một thời đại của Giáo Hội. ĐGH đã diễn tả đau đớn như "một lưỡi chém rớt xuống mình" và Ngài thổ lộ tâm tư thầm kín: "Khi cuộc đếm phiếu vào chiều thứ ba, 19.4.2005 từ từ lộ ra là tôi được khá nhiều phiếu, tôi bắt đầu cảm thấy choáng váng mặt mày. Tôi nghĩ rằng tôi đã hoàn thành công việc giao phó của đời tôi và giờ đây với tuổi già (78 tuổi) tôi có thể hy vọng sống những ngày cuối đời trong an bình."

Cũng từ ngày lãnh nhận trách nhiệm cai quản Giáo Hội, ĐGH Bênêđictô XVI lên tiếng nhắc nhở thế giới đang chạy lao đầu theo với chủ nghĩa ích kỷ cá nhân và từ chối Thiên Chúa, nhất là sự việc này đang xảy ra trong khối cộng đồng chung Âu Châu (EU): "... Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất...” Không còn tìm được lời nào xác đáng hơn để diễn tả thực trạng cuộc sống ngày nay. Mới hôm tối Thứ Sáu Tuần Thánh, 14.4.2006 trong buổi đi đàng Thánh Giá tại hí trường Côlôssêô, Ngài mạnh dạn lên án những bất công và suy đồi của thời đại: nền tảng gia đình đang bị hủy bỏ, nạn đói nghèo đang hoành hành khắp mọi nơi, chủ nghĩa tôn vinh kỹ thuật thay đổi Gien di truyền để tự cho mình là Thiên Chúa. Kỹ thuật hiện đại đang tạo ra chủ nghĩa chống lại sự sáng tạo địa cầu của Thiên Chúa, chống lại chương trình cứu rỗi của Đức Kitô, v.v...

Lời cầu nguyện khai mạc đường Thánh Giá ĐGH đã thành tâm dâng lên: "Lạy Chúa Giêsu, cuộc Thương Khó của Chúa là trọn lịch sử nhân loại, một lịch sử trong đó những người lành bị sỉ nhục, những người hiền bị tấn công, những kẻ liêm khiết bị chà đạp, những tâm hồn trong sạch bị khinh dể nhạo cười." Cuộc suy niệm Đường Thánh Giá này tiếp tục lên tiếng bênh vực cho hạnh phúc gia đình là nền tảng của mọi nền tảng con người: "Xin cho cái té ngã của Chúa mở mắt chúng ta để ta thấy được lần nữa khuôn mặt tuyệt đẹp, khuôn mặt chân thật, khuôn mặt thánh thiện của gia đình. Một khuôn mặt của gia đình mà tất cả chúng ta đều cần đến." Và chặng đường Thánh Giá muốn làm thức tỉnh lương tâm nhân loại: "Thế giới đang sống trong hai phòng: một phòng con người chết vì quá sung túc dư thừa, còn bên kia con người chết vì nghèo đói túng thiếu; một bên người ta lo sợ mập phì, và bên kia thì người ta van xin tình thương bác ái." ĐGH đặt câu hỏi cụ thể cho thời đại: "Tại sao không dùng người nghèo làm liệu pháp để điều trị bệnh phát phì của người giàu có?“

Chắc chắn ĐGH Bênêđictô XVI không có nhiều năng khiếu bằng Đức Cố GH Gioan Phaolô II như là người của giới truyền thông yêu chuộng và có nhiều đặc sủng khi đối thoại, điều này không ai chối cãi. Nhưng ĐGH Bênêđictô XVI đang học hỏi trong vai trò Giáo Hoàng và đối với Ngài trong một năm vừa qua không phải cá nhân của Ngài là trung tâm điểm, nhưng chính là những tư tưởng và lời giảng huấn của Ngài. Không lạ gì tại nước Đức trong một năm qua các sách viết về thần học đã được tiêu thụ nhiều hơn bao giờ hết, nhất là những sách viết của tác giả Joseph Ratzinger. Tại Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2005 – Köln Ngài đã để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng người Đức, ngay cả trong giới Tin Lành.

Điều ngạc nhiên hơn khi người ta nghiên cứu về con số thống kê trong một năm hoạt động của ĐGH Bênêđictô XVI: Không gặp khó khăn nào đáng kể trong những ngày tháng đầu của chức vị Giáo Hoàng, số tín hữu hành hương giáo đô Rôma mỗi ngày một đông thêm, nhất là vào những buỗi Triều Yết Thứ Tư hàng tuần và buổi đọc kinh Truyền Tin Chúa Nhật bất kể mùa hè lẫn mùa đông. Con số còn đông hơn thời Đức Cố GH Gioan Phaolô II, khi được nghe về con số so sánh như thế ít ai có thể tin được, ngay cả chính Ngài. Giới báo chí ở Đức đã gọi đó là "Phänomen Ratzinger“ (hiện tượng của Ratzinger). Đôi lúc mọi người đòi hỏi quá nhiều nơi Giáo Hoàng người Đức này và quên mất một điều cần thiết là Ngài đã 79 tuổi rồi, tuổi cần phải dưỡng già.

Nhìn lịch trình trong năm 2006 Ngài có 4 cuộc tông du ra nước ngoài (gần bằng con số của vị tiền nhiệm trong một năm): đỉnh cao là thăm lại cố hương tại Bayern vào tháng 9, trước đó là thăm Balan, quê hương của Đức Cố GH Gioan Phaolô II vào tháng 5, thăm Tây Ban Nha vào tháng 7 và sau đó là Thổ Nhĩ Kỳ, một quốc gia Hồi Giáo không dễ dàng cho một vị Giáo Hoàng đặt chân đến đó.

Mừng sinh nhật thứ 79 của ĐGH chúng ta cũng nhận ra Ngài không có nhiều thời gian để tính những chương trình lâu dài, tuy nhiên qua một năm cai quản Giáo Hội chúng ta từ từ nhận ra được hướng đi của Ngài. Theo giới nghiên cứu thần học nhận xét Ngài dùng chiếc "Vỏ Sò“ thêu trên áo lễ là biểu tượng đi tìm Chân Lý (Wahrheit) của Thánh Augustinô cũng như dấu hiệu hành hương đến Santiago nơi mộ Thánh Giacôbê Tông Đồ. Như thế Ngài có 3 mục tiêu:

  1. Với chân lý Chúa Kitô Ngài chống lại mọi ý thức hệ sai lầm của nhân loại.

  2. Phụng Vụ thánh là trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu.

  3. Không bỏ cuộc trước đấu tranh đòi hỏi quyền lợi của người tín hữu trong xã hội và xem đó là trách nhiệm chung của người Kitô hữu.

Bây giờ chúng ta có dịp nhớ lại lời phát biểu của ĐGH Bênêđictô XVI vào sáng thứ hai, 25.4.2005 sau ngày lễ đăng quang GH lúc tiếp đón các người đồng hương Đức: "Đường đi của Thiên Chúa quả thật không dễ dàng, chúng ta không được tạo thành để hưởng sự thoải mái mà là sống cho sự cao cả và cho điều lành.“ Đó là lời Ngài sống và làm chứng về lời này trong nhiều năm phục vụ Giáo Hội và trong một năm Giáo Hoàng vừa qua. Một danh xưng mới và để so sánh tư tưởng Thần Học thời danh bậc nhất dành cho Ngài mà tờ báo Die Welt hôm nay đã cẩn trọng cân nhắc: "Thomas von Aquin unserer Zeit“ (Thomas von Aquin của thời đại chúng ta).

Chúng ta nhớ cầu nguyện nhiều cho Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI vào dịp sinh nhật thứ 79 và vào dịp giáp năm lên ngôi Giáo Hoàng ngày 19.4.2005.

Ai muốn viết Email chúc mừng ĐGH Bênêđictô XVI vào 2 dịp này, thì có thể ghé vào trang website: www.benedikt-in-bayern.de viết trong ô có sẵn để chúc mừng Ngài (trong mục ghi như sau: Gottes Segen zum Geburtstag Glückwünsche an den Papst). Hiện nay đã có hơn 5.000 thư Email viết mừng Ngài.

Chúa Nhật ngày 14 tháng 10, năm 2007


Chúa Nhật ngày 14 tháng 10, năm 2007

Chúa Nhật 28 Mùa Thường Niên - Năm C

2 Các Vua 5:14-17
Thánh Vịnh 98:1, 2-3, 3-4
2 Timôthê 2:8-13
Luca 17:11-19

Đề tài Chúa Nhật tuần này là biết ơn.

Câu chuyện Tướng Naaman của xứ Syria được Tiên Tri Êliasa chữa lành bệnh phong hủi xảy ra vào thời vua Ahadia của Nước Israel, khoảng năm 850 trước công nguyên. Sau khi được chữa lành, ông đã trở lại tạ ơn người của Thiên Chúa và quyết định tôn thờ một mình Thiên Chúa của Israel mà thôi: “Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Israel.” Rồi ông xin được chở một ít đất từ Israel về nước ông để làm bàn thờ dâng của lễ cho Thiên Chúa: “Từ này ngoài Chúa, tôi tớ của ông sẽ chẳng dâng của lễ toàn thiêu hoặc hy lễ cho thần minh nào khác.”

Trong bài Phúc Âm, Chúa Giêsu chữa lành 10 người phong hủi, nhưng chỉ có một người trở lại tạ ơn Chúa, mà người đó lại là nguời Samaria. Chín người kia chắc chắn cũng đã được khỏi. Họ có thể không quên ơn Chúa, nhưng có lẽ họ đặt việc trở về với gia đình và bạn bè trên việc tạ ơn Chúa. Người Samaritanô trở lại cảm ơn Chúa trước rồi mới về nhà, vì anh cảm thấy đó là điều tối quan trọng, một nhiệm vụ. Anh đến sấp mình dưới chân Người vì anh tin rằng Người là Thiên Chúa. Anh sấp mình thờ lạy và tôn vinh Người để tạ ơn.

Trong cả hai câu chuyện trên, người phong hủi là những người bị loại ra ngoài xã hội vì bệnh tật ghê tởm của họ, và họ chỉ được trở về với xã hội sau khi được tư tế chứng nhận là họ đã lành mạnh hẳn. Cũng trong hai câu chuyện, người trở lại cảm tạ Thiên Chúa lại là người ngoại. Điều này nói ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa và tình thương của Ngài đối với mọi người. Chính vì tình thương đó mà Ngài đã công bố ơn cứu độ của Ngài trước mặt chư dân bằng cách sai Con Một xuống trần sinh bởi dòng Đavid để đem Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.

Hầu hết chúng ta chạy đến Chúa để khẩn cầu Chúa ban cho hết ơn này đến ơn khác, mà quyên rằng có năm loại cầu nguyện: chúc tụng và thờ lạy, khẩn cầu, chuyển cầu, tạ ơn, và ca ngợi (GLCG 2626-2639). Nhiều khi chúng ta trách Chúa vì đã không ban cho chúng ta những ơn chúng ta xin, và ít khi chúng ta nhớ cảm tạ Chúa và những ơn lành Ngài ban. Khi nhận được ơn Chúa, con người phải biết trở lại thờ phượng Ngài.

Tạ ơn Chúa chính là cầu nguyện. Sách Giáo Lý viết: “Tạ ơn là đặc tính của kinh nguyện Hội Thánh, đặc biệt khi cử hành Thánh lễ. Thật vậy trong công trình cứu độ, Ðức Ki-tô giải thoát toàn thể thụ tạo khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự chết, để thánh hiến và qui hướng chúng ta về với Chúa Cha, để tôn vinh Chúa Cha. Lời kinh tạ ơn của các chi thể trong Thân Thể được tham dự vào lời tạ ơn của Ðức Ki-tô là đầu” (GLCG 2637)

Cũng như trong kinh nguyện khẩn cầu, mọi biến cố và mọi nhu cầu đều có thể trở thành dịp để dâng lời tạ ơn (GLCG 2638).

Tất cả mọi sự chúng ta đang có đều do ơn Chúa. Trong đó ơn quý trọng nhất là ơn được làm con cái Thiên Chúa trong Đức Tin. Qua Bí Tích Thánh Tẩy, chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô cho nên chúng ta cũng được cùng sống với Người như Thánh Phaolô nhắc nhở trong thư thứ hai gửi Thánh Timôthê. Chúa Giêsu không những chết để cho chúng ta được sống, mà còn trở nên lương thực nuôi dưỡng linh hồn chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể, là Bí Tích Tạ Ơn. Cho nên chúng ta phải biết ơn Chúa bằng việc làm của chúng ta. Như tướng Naaman và người Samaritanô được chữa lành, chúng ta hãy quay về với Chúa, nhất là sấp mình trước Nhà Tạm để tạ ơn Chúa vì mọi ơn là Chúa ban. Đồng thời chúng ta hãy noi gương Thánh Phaolô tạ ơn Chúa bằng việc làm qua việc hy sinh thì giờ cầu nguyện, soạn bài, chấp nhận mọi đau khổ, khó khăn, hiểu lầm, và ngay cả xiềng xích hay cực hình để mang Tin Mừng cứu độ đến cho mọi người nhất là cho các học sinh của chúng ta।


Sunday, October 14, 2007

Twenty-eighth Sunday in Ordinary Time—Year C

2 Kings 5:14-17
Psalm 98:1, 2-3, 3-4
2 Timothy 2:8-13
Luke 17:11-19

The topic of this Sunday is gratitude.

The story of general Naaman of Syria who was cured by the prophet Elisha from leprosy happened during the reign of Ahaziah of Israel, about 850 BC. After being cleaned, he returned to thank the man of God and resolved to worship only the God of Israel: “Now I know that there is no God in all the earth, except in Israel.” Then he asked Elisha to allow him to “have two mule-loads of earth, for I will no longer offer holocaust or sacrifice to any other god except to the LORD.”


In today’s Gospel, Jesus cured 10 lepers, but only one returned to thank Him, and that man was a Samaritan. Surely the other nine were also cured. They might be grateful to the Lord, but they put other tasks, such as return to their families or friends, at higher priority than returning to thank God. The Samaritan returned to thank Jesus before going home because he felt this is his most important duty. He put God first. He prostrated himself before Jesus to show his appreciation, to adore Him as God, because he believed that Jesus is God.

In both stories, the lepers are the ones who were rejected by the society because of their disease. They can only be permitted to return to normal life after being certified by a priest that they are clean (Lev 14:2-4). Leprosy is a true metaphor for our sins. Because of sin, men were cut off from the relationship with God. Jesus came to clean us from sin and restore this relationship when He died for our sins on the Cross. However, we continue to sin, so we need the healing power of Jesus through the priests in the Sacrament of Reconciliation to cleanse us from our personal sins and integrate us again into His Body, the Church.

Also in both stories, the ones who returned to thank God are gentiles. This attests to the universal scope of God’s will to save all people, regardless of race. Because of His love, God has revealed to all the nations His saving power (Ps 98) by sending His Only Son to the world as a descendant of David to bring the Good News of salvation to all the nations. We must be thankful to God because of this saving power.

However, when we pray, very few of us know to thank God like Naaman or the Samaritan leper in today’s reading; we only ask God to satisfy our needs or desires. Many times we complain that God did not listen to our petitions, yet we seldom remember to thank God for His blessings. When receiving His blessing, we must return to adore Him in Thanksgiving. Thanksgiving is one of the five basic types of prayer that the Church teaches us: the prayer of blessing and adoration, the prayer of petition, the prayer of intercession, the prayer of thanksgiving and the prayer of praise (CCC 2626-2639).

In fact, thanksgiving is the most important prayer. “Thanksgiving characterizes the prayer of the Church which, in celebrating the Eucharist, reveals and becomes more fully what she is. Indeed, in the work of salvation, Christ sets creation free from sin and death to consecrate it anew and make it return to the Father, for his glory. The thanksgiving of the members of the Body participates in that of their Head” (CCC 2637). “As in the prayer of petition, every event and need can become an offering of thanksgiving” (2638).

Everything that we have comes from God. The most precious gift is to become children of God in Faith. Today St. Paul reminds us in the second letter to Timothy that through Baptism, “we have to die with Christ” so “we shall also live with Him.” Jesus did not only die to give us life but He also becomes the food for our souls in the Eucharist, the Sacrament of Thanksgiving. Therefore we must thank God by our deeds. Like Naaman and the Samaritan in the Bible today, we must return to Jesus, prostrate in front of the Tabernacle to thank God for everything He has given to us. As catechists, we also follow the example of St. Paul, be ready to sacrifice our time to pray, to prepare our lessons, to accept sufferings and misunderstanding, and even to be in chains or tortures to bring the Good News to everyone, especially our students.

HÃY SIÊNG NĂNG LẦN HẠT MÂN CÔI


Hãy Siêng Năng Lần Hạt Mân Côi
30/09/2007

Tháng Mân Côi lại về. Tràng Hạt Mân Côi là một quyển Thánh Kinh Thực Hành thu nhỏ. Tràng Hạt Mân Côi là vũ khí hữu hiệu chống lại Satan và những cám dỗ của nó. Vừa đọc Kinh Mân Côi, vừa theo gương Đức Mẹ suy niệm các mầu nhiệm của Đức Kitô trong lòng, và để các mầu nhiệm này thấm nhuần cuộc sống của chúng ta. Chúng ta sẽ trở thành những tác nhân thay đổi môi trường chúng ta đang sống bằng chính những gương sáng của chúng ta.


HÃY SIÊNG NĂNG LẦN HẠT MÂN CÔI

Từ thế kỷ XIII đến nay, Giáo hội luôn khuyến khích và cổ võ mọi Kitô hữu hãy siêng năng lần hạt Mân côi. Đó là những phút suy gẫm ngắn gọn, đơn giản, nhưng không kém phần thâm sâu về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Ơn cứu độ được ngỏ với mọi người trong cuộc đời Đức Kitô được toát lược lại thành bốn phần, bắt đầu từ mầu nhiệm nhập thể và đời sống ẩn dật tại Nazaret, cuộc đời rao giảng, rồi đến cuộc tử nạn và phục sinh.

Cả đời Mẹ là đồng hành với Đức Kitô, mọi biến cố trong cuộc đời của Đức Kitô đều là một lời mời gọi Mẹ dấn thân vào một niềm tin đem lại phúc ân bởi trời. Đọc kinh Mân côi là cùng với Mẹ nhìn ngắm trong hân hoan tình yêu cứu độ mà Chúa đang thực hiện cho con người : “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51); đọc kinh Mân côi cũng là nhìn ngắm Mẹ đi bên cạnh Chúa như thế nào, từ lời ‘xin vâng’ trong ngày truyền tin, lúc ngồi dưới chân con mình như một môn đệ, khi đi bên cạnh Đức Kitô trên đường thập giá và ôm xác con mình dưới chân thập giá, khi thấy con mình phục sinh khải hoàn trong vinh quang mang theo muôn vàn hồng ân cho hết thảy những ai tin.

Làm sao có thể nói cho hết được tình thương bao la của Chúa khi mang lấy cái tên của một con người, và cho phép một thụ tạo có thể đặt tên cho Thiên Chúa của mình : “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su” (Lc 1,31). Hân hoan bởi tin vào tình thương của Chúa, lời đáp trả đầu tiên của Mẹ là hai tiếng ‘xin vâng’, hai tiếng đơn sơ của một cô thôn nữ quê mùa chất phác nhưng đã làm cả đất trời thay đổi.

Kinh Mân côi vừa diễn tả tình thương đến quên mình của Chúa đối với từng người vừa cho thấy cái sức mạnh ban ơn cứu độ của đức tin. Nhờ đó, mỗi người có thể hát lên hân hoan lời kinh Kính mừng, vì cái phúc nơi Đức Mẹ là sự mở đầu và thành toàn cái phúc mà Chúa sẽ ban cho những ai tin : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà …”

Vì thế, kinh Mân côi được coi là một việc đạo đức quí báu cho hết mọi người, từ người quê mùa đến Đức Giáo hoàng. Có đến trên 50 vị Giáo hoàng ban bố văn kiện khuyên lần hạt Mân côi. Riêng Đức Lêô XIII thì trong 18 năm (1883-1901) đã có đến 12 thông điệp nói đến kinh Mân côi.

Kinh Mân côi quí báu vì lời kinh đơn sơ mà lại chứa đựng chân lý cứu độ. Đó chính là sức mạnh của kinh Mân côi, sức mạnh của ánh sáng và chân lý có thể dẹp tan bóng tối và sự lầm lẫn, như lời Đức Mẹ khi dạy thánh Đaminh dùng kinh Mân côi mà chống bè Albigenses.

Đức Cha Dupanloup là một viện sĩ thời danh của Pháp, tác giả cuốn ‘Lettres sur l’éducation des filles’, thường hay nhắc lại câu chuyện này :

Khi mới làm linh mục, ngài thường dạy các em nhỏ chuẩn bị rước lễ lần đầu là nếu mỗi ngày đọc ba kinh Kính Mừng dâng mình cho Đức Mẹ, và giữ cho đến chết, thì Đức Mẹ sẽ không bỏ rơi trong giờ phút sau cùng.

Sau này khi ngài làm Giám mục thì có cô con gái duy nhất của một vị tướng bị mắc bịnh ung thư lúc còn trẻ. Cô đã phát bệnh sau khi sinh đứa con đầu lòng năm 20 tuổi. Cả gia đình không biết phải báo tin này như thế nào cho cô nên mới nhờ Đức Cha báo tin và giúp cô dọn mình chết lành. Ngài nhận lời nhưng cũng thấy bối rối vì không biết phải bắt đầu như thế nào. Bước vào phòng bệnh nhân, ngài hỏi :

“Chúa định cho con phải đau đớn quá nhỉ?!”

Nhưng bệnh nhân tươi cười và hỏi lại :

“Đức Cha có tin chắc con được lên thiên đàng không?”

Đức Cha trả lời : “Cha hy vọng Chúa sẽ cho con lên thiên đàng”.

Bệnh nhân lại nói : “Đức Cha thì hy vọng, còn con thì tin chắc là con sẽ được lên thiên đàng”

“Làm sao mà con lại dám tin chắc là con được lên thiên đàng?”

“Thì chính Đức Cha đã dạy con mà”

Đức Cha ngạc nhiên : “Cha đã dạy con khi nào?”

Cô trả lời : “Khi con học lớp giáo lý chuẩn bị xưng tội rước lễ lần đầu, Đức Cha đã dạy chúng con nếu mỗi ngày đọc ba kinh Kính Mừng, và dâng mình cho Đức Mẹ và giữ thói quen này cho đến chết thì chắc chắn là Đức Mẹ sẽ không bao giờ bỏ chúng con. Con đã giữ thói quen đọc ba kinh Kính Mừng mỗi ngày; đặc biệt, từ ngày lập gia đình, con còn đọc thêm mỗi ngày năm chục kinh. Mỗi ngày con nói với Đức Mẹ năm mươi lần ‘Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử’ thì làm sao mà Đức Mẹ bỏ con được?”

Và Đức Giám mục Dupanloup kết luận : “Thay vì tôi yên ủi cô thì cô lại yên ủi tôi”.

Đúng thế, còn gì phải lo âu khi có Đức Mẹ, ‘đấng toàn năng bởi lời cầu nguyện’, ở bên tôi khi tôi đọc kinh Mân côi.

Đức Mẹ đã hiện ra ở Lộ đức với tràng chuỗi trên tay; còn ở Fatima, Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ Lucia, Phanxicô, và Giacinta đang lần hạt và nhắn nhủ ba mệnh lệnh cho thế giới là ăn năn thống hối, tôn sùng Mẫu tâm, và siêng năng lần hạt Mân côi. Có người mẹ nào thấy con mình đang lâm nạn mà không chạy đến cứu giúp, có khi còn sẵn lòng chết thay cho con?

Đức Mẹ làm gì cho nhân loại hôm nay?

Đức Mẹ tha thiết kêu gọi : “Hãy siêng năng lần hạt Mân côi”


Chúa Giêsu, người yêu qúi trẻ con

Chúa Giêsu, người yêu qúi trẻ con
23/09/2007

Ngày nay ở khắp nơi trên thế giới, người ta coi việc có nhiều con là một gánh nặng chứ khồng phải là một hồng ân Chúa ban. Chính vì thế mà các xã hội Âu Mỹ càng ngày càng trở nên già cỗi vì thiếu trẻ em. Còn Chúa Giêsu thì đặc biệt thương mến trẻ em và muốn chúng ta nên giống trẻ nhỏ để được vào Nước Trời. Nhân dịp Tết Trung Thu, Linh Mục Đa Minh Nguyễn Ngọc Long cùng chia sẻ với chúng ta những phương thức để trờ nên giống trẻ nhỏ như Chúa mong muốn.


Chúa Giêsu, người yêu qúi trẻ con


Trong xã hội những nước chậm tiến hay đang phát triển, như bên Á Châu, bên Phi châu, bên Nam Mỹ châu, các gia đình thường đông con. Xã hội có nhiều trẻ con, người trẻ. Một xã hội sinh động hứa hẹn đà sống vươn lên!

Trái lại ở những nước kỹ nghệ văn minh tân tiến, từ 50 năm trở lại đây, như bên Âu châu, bên Bắc Mỹ châu, các gia đình thường ít con đi, hay không muốn có con nữa. Xã hội dần ít trẻ con, ít người trẻ. Một xã hội đang già cỗi đi!

Ở những nước như bên Việt Nam, bên Trung Hoa…người ta đưa ra chương trình kế hoạch hóa gia đình, nhằm hạn chế sinh sản. Trước mắt, như để điều hòa cuộc sống xã hội, nhằm tránh nạn nhân mãn: nhiều người qúa mà ít đất đai sinh sống! Nhưng về lâu dài, xã hội đó sẽ dần ít người trẻ đi, người già nhiều thêm ra. Một xã hội cũng dần đi vào vết xe già cỗi!

Đời sống xã hội như thế cũng gây ảnh hưởng mạnh vào đời sống đạo giáo niềm tin. Vì đạo giáo niềm tin chỉ phát triển sống động khi có con người và vì con người thôi. Thiếu yếu tố con người, nhất là thiếu trẻ con cùng người trẻ, tất cả cũng chỉ là lý thuyết trên giấy tờ mà không có thực hành.

Tình trạng đời sống Giáo Hội Công giáo cũng như Tin Lành ở bên xã hội Âu Châu đang trong thời kỳ khủng hoảng là một chứng cớ. Một trong những lý do gây khủng hoảng là vì thiếu hay xem ra không còn trẻ con, người trẻ nữa!

Con người, xã hội có thái độ sống thế nào với trẻ em?

Không chỉ cho người lớn. Nhưng hằng năm, theo phong tục văn hóa đời sống xã hội bên Việt Nam, ngày Rằm Tháng Tám âm lịch là ngày lễ Tết cho thiếu nhi, hay còn gọi là Tết Trung Thu.

Ở các nước trên thế giới, tùy theo phong tục tập quán nền văn hóa, cũng đều có ngày dành riêng cho các em thiếu nhi. Như bên nước Đức ngày 11 tháng 11 hằng năm là ngày các em thiếu nhi rước đèn mừng lễ Thánh Martin thành Tours, một vị Thánh nêu cao tấm gương lòng bác ái chia sẻ áo cơm với người nghèo đói.

Ngày nay ở bên xã hội các nước Âu châu đang có những chương trình nâng đỡ các gia đình có trẻ em, những mong muốn làm sống động lại không khí một xã hội tươi trẻ sinh động vươn lên.

Các trẻ em cũng được nhớ đến có chỗ đứng trong xã hội con người. Vun trồng thế hệ trẻ em là xây dựng tương lai.

Chúa Giêsu khi đi rao giảng Nước Thiên Chúa có thái độ gì cùng nói gì về trẻ con?

Kinh Thánh thuật lại như sau: “Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su, để Người đặt tay trên chúng. Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người bực mình nói với các ông: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào." Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng.” ( Mc 10.13-16).

Người ta đối xử với trẻ con, nhất là trong xã hội ngày xưa, thiếu bầu khí thiện cảm tình người. Người ta có ý nghĩ: nói chuyện vui đùa với trẻ con chỉ mất thời giờ, nhất là với những người đạo đức cao cả. Họ nhìn trẻ con chỉ như thế hệ nối dõi tông đường thôi.

Nhưng Chúa Giêsu thì có thái độ khác hẳn với lối sống như thế. Người rất bất bình với cung cách xua đuổi, xa trẻ con của người lớn thời đó.

Đang khi những thầy thông thái Pharisêo tranh luận về trẻ con có được tham dự vào Nước Thiên Chúa không, trong khi các em chưa có công trạng giữ đạo như luật định gì hết, Chúa Giêsu ôm một em bé ra đặt giữa trước mắt làm hình ảnh ví dụ, như mọi người đứng trước Thiên Chúa. Người nói với họ: không phải cứ thi hành làm mọi điều như luật định là được dự phần vào Nước Thiên Chúa đâu. Nhưng phải trở nên như em bé đây với hai bàn tay trắng, không có gì hết.

Thế nào là trở nên như một em bé trong Nước Thiên Chúa?

Một em bé, trong niềm mơ ước là hình ảnh nguyên tuyền không bị làm sai lệch, là hình ảnh của nguyên thủy khởi đầu, của điều gì mới đang muốn dần thành hình trong ta.

Trở nên như trẻ em trong Nước Thiên Chúa là cởi bỏ những mặt nạ che đậy, những vai trò đóng kịch lập công trạng thành tích trong cuộc sống, như mình nghĩ là phải mang đeo vào.

Hình ảnh Chúa Giêsu, như Phúc âm thuật lại “Người ôm lấy các trẻ em”, gợi nhớ đến hình ảnh mỗi người cũng là một em bé thần thánh do Thiên Chúa dựng nên.

Hình ảnh em bé thần thánh Thiên Chúa đó trong mỗi người là nguồn của sự năng động sáng tạo, của khởi thủy nguyên tuyền bản chính gốc.

Hình ảnh Chúa Giêsu đặt tay chúc lành cho trẻ em gợi nhớ đến, mỗi người ai cũng cần bàn tay che chở.

Bàn tay của cha mẹ mang đến tình yêu thương nồng ấm cho em bé, cho con cháu. Và ngược lại bàn tay em bé cũng mang đến niềm vui hạnh phúc cho cha mẹ em.

Trẻ em người lớn, nhất là những người cao tuổi, người bệnh tật đau yếu, người nghèo khổ cô đơn thất thế luôn cần đến bàn tay chúc lành từ Trời cao và của mọi người xung quanh nữa. Và hơn thế nữa, bàn tay chúc lành của con người với nhau nói lên cung cách sống đạo đức tình người cùng lòng biết ơn nhau.

Chúc lành của Chúa Giêsu, hay của con người cho nhau, như hình ảnh một không gian được che chở, trong đó trẻ em, con người cảm thấy được yêu thương kính trọng cùng được bảo vệ, gìn giữ.

Trong không gian chúc lành được che chở đó, một đời sống, dù có bị thương tích, cũng có thể triển nở vươn lên được.

KHAI GIANG NAM HOC 2007 - 2008

Thánh Lễ Cầu Nguyện Cho Năm Học Mới 2007-2008

Của Sinh Viên Tổng Giáo Phận Hà Nội


Thánh Lễ Cầu Nguyện Cho Năm Học Mới 2007-2008 Của Sinh Viên Tổng Giáo Phận Hà Nội.

Hà Nội, Việt Nam (7/10/2007) - Chiều Chúa nhật, ngày mùng 7 tháng 10 năm 2007, tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, Ðức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Cha đặc trách sinh viên - giới trẻ Tổng giáo phận và quý cha đã cử hành thánh lễ trọng thể khai giảng và cầu nguyện cho năm học mới, đông đảo các bạn sinh viên Công giáo học tập ở thủ đô Hà Nội và bà con giáo dân đã tham dự thánh lễ này.

Ðến từ khắp các giáo phận trong giáo tỉnh Hà Nội, các bạn sinh viên cùng tụ họp về thủ đô Hà Nội để học tập trong các trường đại học ở đây. Các bạn trẻ này cũng gắn bó trải nghiệm mọi niềm vui cũng như tân toan lo lắng của đời sinh viên chốn thị thành nhưng họ còn có thêm một vinh dự và cũng là một trách nhiệm khác - đó là những sinh viên Công giáo. Hàng năm, cứ vào dịp đầu năm học, hang ngàn bạn sinh viên lại cùng nhau về ngôi nhà thờ chính tòa cổ kính này của Tổng Giáo phận để cầu nguyện cho một năm học mới được Chúa đồng hành và ban nhiều ơn Thánh.

Tham dự thánh lễ hôm nay có khoảng trên 1,000 bạn sinh viên, ngoài ra chúng ta còn hân hoan chào đón 200 bạn tân sinh viên vừa mới trúng tuyển vào các trường đại học - cao đẳng trong kỳ thi vừa qua, muôn con tim cùng chung nhịp đập, muôn tiếng lòng cùng cất lời ca tụng cảm tạ hồng ân Thiên Chúa và nguyện ước cho một năm học mới được nhiều kết quả tốt đẹp trong vòng tay Chúa yêu thương. Ðặc biệt, trong thánh lễ này, các bạn sinh viên còn được sự ưu ái của Ðức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đến chủ sự, cùng đồng tế với các Ngài còn có Cha đặc trách sinh viên - giới trẻ của Tổng giáo phận, cha Tổng đại diện giáo phận Hà Nội và quý Cha. Ngôi nhà thờ chính tòa Hà Nội hôm nay gần như không còn một chỗ trống, đông đảo bà con giáo dân cũng đến cầu nguyện với các bạn sinh viên trong Thánh lễ trọng thể này. Ðoàn đồng tế tiến vào cung thánh Chúa giữa muôn lời ca tiếng hát hòa cùng tâm tình tri ân cảm tạ.

Ðức Tổng Giám mục trong phần giảng huấn của mình đã nhấn mạnh đến vai trò của Ðức Maria trong công trình cứu chuộc nhân loại, Mẹ đã cất lên lời "Magnificat - xin vâng" và suốt cuộc đời Mẹ là chuỗi dài của việc thực thi thánh ý Chúa với trọn vẹn ý nghĩa của hai từ "xin vâng" đó. Ngài mời gọi các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên hãy luôn noi gương nhân đức của Mẹ, sống xứng danh Kitô hữu, làm chứng cho niềm xác tín vào Thiên Chúa của mình. Cũng như Ðức Mẹ, các bạn trẻ hãy luôn biết thưc "xin vâng" với Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc đời, sẵn sàng đi theo tiếng Chúa kêu mời, sẵn sàng thực thi Thánh ý Chúa trên cuộc đời mình. Ngài cũng nhấn mạnh: xã hội ngày nay đang có nhiều biến chuyển, cái tốt cái xấu, thật giả đan xen khó mà lường được, vì thế các bạn sinh viên phải luôn biết cậy dựa vào ơn Chúa để biết chọn lựa những gì là tốt nhất, những gì là cao quý nhất và những gì phù hợp nhất với danh Kitô hữu của mình, hơn nữa phải biết chắt lọc, học hỏi những gì là tốt lành, là đúng đắn để không ngừng hoàn thiện con người và lòng đạo đức của mình.

Một vị giáo sư, tiến sỹ đại diện cho quý thầy cô và toàn thể các bạn sinh viên của Tổng Giáo phận đã tỏ lòng tri ân Ðức Tổng, quý Ðức Cha Chủ tịch, Cha đặc trách và quý Cha vì lòng ưu ái đã dành cho giới sinh viên - học sinh. Thầy cũng đã thông qua những hoạt động mà sinh viên Tổng giáo phận đã thực hịên trong năm qua như thăm viếng bệnh nhân phong, giúp đỡ người nghèo, từ thiện, tình nguyện trợ giúp mùa thi, sinh hoạt hàng tháng được duy trì đều đặn... nhờ đó đời sống cuả sinh viên Công giáo luôn tràn đầy niềm vui và tinh thần yêu thương - phục vụ.

Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã nhắn nhủ tâm tình tới các bạn trẻ, Ngài mong muốn các bạn hãy là những chứng nhân cho tình thương của Thiên Chúa giữa thế giới hôm nay, hãy làm sao cho việc học hỏi kiến thức không phải chỉ là sự sao chép mà phải là thực chất của mình tích lũy được, hơn thế nữa, hãy luôn biết "học đi đôi với hành", đó là phương châm không thể thiếu đối với sinh viên - học sinh hôm nay. Xã hội hôm nay đang không ngừng thay đổi, phát triển không ngừng, vì thế những người trẻ cần tích lũy cho mình vốn tri thức sâu rộng để phục vụ xã hội và giáo hội, tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là phải đổi mới không ngừng con người của mình theo gương Chúa Kitô, phải trau dồi đạo đức và hơn hết là trai dồi vốn giáo lý - lời Chúa để xứng là những chiến sỹ của Ðức Kitô giữa cuộc đời.

Sau Thánh lễ, hơn 200 bạn tân sinh viên đã được nhận những món quà ý nghĩa do tận tay Ðức Tổng Giám mục và Ðức Cha chủ tịch trao, đó là những món quà và cũng là những tâm tình của người Cha gửi gắm cho những đứa con của mình, như một lời sai đi sống đạo và làm chứng tá Tin mừng cứu độ.

Giuse Trần Ngọc Huấn